Chuồn
chuồn con vật nặng chưa tới 1g có thể bay liên
tục 6400km, băng qua cả Ấn Độ Dương.
Chuồn chuồn một
sinh vật gắn liền với tuổi thơ nông thôn Việt
Nam, đã được nhiều nhà văn mô tả và xem như một
nét văn hóa đặc trưng của ‘nhà quê’ với nhiều
câu ca dao, đồng dao quen thuộc : “Chuồn chuồn
cắn rốn biết bơi “ ; “chuồn chuồn có cánh thì
bay “..và những câu dự báo thời tiết nhờ chuồn
chuồn : “chuồn chuồn bay thấp thì mưa..” và
những thành ngữ như ‘chuồn chuồn đạp nước “,’cái
tổ con chuồn chuồn’.. Nhiều tác giả như Nguyện
Quốc Vương, Hà Hải.. đã mô tả những cách bắt
chuồn chuồn rất thú vị. Nhà ‘phiếm sư’ Song Thao
đã viết khá chi tiết trong bài “Chuồn chuồn’
(thành ngữ
‘Chuồn chuồn đạp nước’ – Dragonfly hits its tail
in water, chỉ người làm việc qua loa, không đến
nơi, đến chốn. Động tác ‘đạp nước’ là khi chuồn
chuồn đẻ trứng..)
* Tản mạn
vài điều về chuồn chuồn..
* Chuồn chuồn
xuất hiện trên trái đất từ thời cổ đại, 300
triệu năm trước, và trước cả thời kỳ khủng long.
Mẫu chuồn chuồn hóa thạch có sải cánh đến 70cm.
* Văn hóa thế
giới có nhiều sự tích và nhiều niềm tin khác lạ
về chuồn chuồn : đa số xem chuồn chuồn như những
điềm báo may mắn, là sứ giả của linh hồn..
– Tàu :
Chuồn chuồn = Thanh Linh (qingting). Chuồn chuồn
bay trên không được xem là ‘linh hồn’ của rồng!
Nhìn thấy chuồn bay được xem là may mắn và chuồn
bay vào nhà sẽ mang may mắn cho gia chủ.. Đời
Thương, bên Tàu đã có món đồ chơi ‘chuồn chuồn
tre’, dùng mảnh tre vót mỏng, khoan lỗ ở giữa,
cắm trục cũng bằng tre, dùng bàn tay giữ trục và
xoay mạnh, để phóng chuồn chuồn tre bay lên..
Chuồn chuồn tre
– Nhật :
Chuồn chuồn (tombo) biểu tượng cho
nhanh-khéo (agility), dũng cảm và thành công.
Chuồn chuồn có một vị trí đặc biệt trong Văn hóa
Nhật, tôn trọng Chuồn chuồn từ ngàn năm.
Sách sử cổ xưa nhất ‘Kojiki’, của
Nhật (khoảng 700 trước Công nguyên) ghi tên nước
Nhật là Akitsushima = Đất của Chuồn chuồn (akitsu
là tên gọi chuồn chuồn thời xưa).
Truyền thuyết Nhật cho rằng Hoàng đế đầu
tiên của Nhật Jimmu, 2500 năm trước, đứng trên
một ngọn núi, đã mô tả hình dạng nước Nhật giống
như một con chuồn chuồn.. Và cũng theo môt
truyền thuyết khác thì Hoàng đế đã được chuồn
chuồn giải cứu khi đang bị bọn muỗi ác tấn công.
Mũ giáp (kachi-muchi) đội
trên đầu của các samurai, có gắn trên chóp một
con chuồn chuồn biểu tượng cho cách tấn công của
chuồn chuồn : phóng thẳng vào con mồi, chỉ tiến
mà không lùi.
Mũ kachi-muchi
Chuồn chuồn có mặt trong nhiều tác
phẩm hội họa, vẽ chuồn chuồn cùng hoa, phong
cảnh, của các họa sĩ như Kitagawa Utamaro,
Katsushika Hok.
Tranh
Nhật : Chuồn chuồn
Nhiều bài
thơ‘haiku‘ khen
tặng chuồn chuồn
“A
dragonfly / settles down to sleep / on the rod
of an unskillful angler”
(Yayu Yokoi- 1700s)
“
Crimson pepper pod / Add two pairs of wings, and
lok / Darting dragonfly “ Lễ hội Obon,
giữa tháng 8, khi chuồn chuồn rất nhiều tại Nhật.
Chuồn chuồn được tin là chở linh hồn người đã
khuất trên lưng.. về thăm người sống..
Ngày nay, danh hiệu ‘tombo,
tonbo’ hay chuồn chuồn được
dùng trong tên của rất nhiều Công ty sản xuất
hàng hóa tiêu dùng tại Nhật.. như bút viết (Tombow
Pencil Company), nhạc cụ, cơ phận máy móc. quần
áo.. Hình ảnh chuồn chuồn được dùng in trên vải
vóc, vật dụng trang trí thường nhật.
Trẻ em Nhật, ngay từ mẫu giáo, đã biết bài ca
nhi đồng Akatonbo = Chú chuồn
chuồn đỏ (VN có bài.. “Kìa con bướm vàng..). Bài
ca (1989) rất thịnh hành khắp nước Nhật..và phát
thanh rộng rãi toàn quốc trong các Chương trình
giáo dục nhi đồng..
– Châu
Âu.. Chuồn chuồn được xem như đáng sợ,
có liên hệ với ma quỷ? Romania xem chuồn chuồn
như biểu tượng của ma thuật, phù thủy, hóa thân
của ác quỷ. Tại Anh, chuồn chuồn có những tên
‘lóng’ như ‘devil’s’ darning needles = kim khâu
của quỷ, khâu miệng trẻ khi đang ngủ! Thụy Điển
khác hơn Truyện thần thoại Bắc Âu kể là chuồn
chuồn có liên hệ với Nữ thần Freya (thần Tình
yêu, Giàu sang và Gợi dục). Liên hệ giữa chuồn
chuồn và rắn, đã có nguồn gốc tại Âu châu từ hơn
3000 năm và chuồn chuồn có những biệt danh như
‘adder’s needles’, ‘ox-viper’, adder’s servant’.
Dragonfly = Libellules = Chuồn chuồn ngô
* Chuồn chuồn là
phi công rất tài năng, bay tới bay lui, cất cánh
và hạ cánh dễ dàng, bay rất nhanh (trong 1 giây,
chuồn chuồn bay được một khoảng cách dài gấp 100
lần cơ thể (xem phần cánh và cách bay). Tên
Dragonfly được đặt cho nhiều loại máy bay quân
sự các loại cả chiến đấu lẫn trực thăng.
– HO2S/R-5
(Sikorsky S-48) Dragonfly helicopter,
được sử dụng trong Lục quân, Hải quân và US
Coast Guard. YH-5A Dragonfly..
Không Lực Hoàng gia Anh chế đã tạo nhượng quyền
S-48 và đặt tên là Westland-Sikorsky WS-51
Dragonfly.. Trực thăng đa dụng dùng
chuyển vận, tải thương và cứu nạn..
* Cessna
A-37 Dragonfly, tên gọi của phi cơ khu
trục chiến đấu nổi danh của Không quân Việt Nam
Cộng Hòa (được viết rất nhiều trong các tài liệu
về chiến tranh VN).
Dragonfly
A-37 của Không quân VNCH
Male in flight
* Vài
đặc điểm sinh học:
Bộ côn
trùng Odonata gồm khoảng 550 bộ
phụ (odonates) phân bố nhiều nơi trên thế giới,
chia thành 2 nhóm damselflies (chuồn
chuồn kim), khoảng 2500 loài, trong 20
họ; và dragonflies (chuồn chuồn ngô),
khoảng 2700 loài với 8 họ..
Damselfly = Demoiselle = Chuồn
chuồn kim
Có thể phân biệt 2 nhóm này bằng các đặc điểm
của cánh và vị thế cánh khi đậu :
*
Damselflies, Demoiselles (Pháp)
(chuồn chuồn kim). Cánh trước
(forewings) và sau (hindwings) đồng dạng. Khi
đậu, cánh xếp dọc theo thân,
gần phần bụng.
Damselfly = Demoiselle = Chuồn
chuồn kim
*
Dragonflies, Libellules, (chuồn
chuồn ngô). Forewings hẹp hơn
hindwings, Tư thế của cánh khi đậu, xoè gần
như vuông góc với thân.
Dragonfly = Libellule = Chuồn chuồn ngô
*Mô
tả sinh vật học :Mô tả
tóm lược theo Võ văn Chi trong “Từ điển Động vật
và Khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam” trang
116-117.
.. “
Chuồn chuồn có hai đôi cánh có hình dạng và kích
thước lớn gần như nhau. Hệ gân cánh rất dày,
nhiều gân gạch ngang chằng chịt; cuối bờ trước
của cánh thường có mắt cánh, là bộ phận điều
chỉnh triệt tiêu rung động cơ học, đảm bảo cho
độ vững chắc của cánh.
Đầu lớn,
hai bên có hai mắt kép lớn. Râu nhỏ, hai đốt và
một lông nhỏ dài. Phụ miệng kiểu nghiền; chạn
mảng hướng về phía trước. Bụng mảnh, dài, phần
phụ hậu môn ở đốt bụng thứ 3, 4 (nơi con đực)
hay đốt 2 (nơi con cái); Cơ quan sinh dục ở đốt
bụng thứ 9 ; cơ quan giao phối thứ sinh của con
đực ở đốt thứ 2..”
Chuồn chuồn ngô
Đầuchuồn chuồn
* Sinh học :
Vòng đời
chuồn chuồn chia thành 2 giai đoạn : Chuồn chuồn
đẻ từ hàng trăm đến hàng ngàn trứng. đẻ vào mặt
nước, trên cành lá thủy sinh, trên đất ẩm hoặc
trong mô cây ở nước.Thời gian trứng nở tùy loài,
có loài chỉ sau vài ngày nhưng cũng có loài
trứng nở sau cả tuần và cũng có thể nhiều tuần.
* Tiền ấu
trùng; Sau khi nở, chuồn chuồn sống nhiều năm (từ
3-5 năm), dưới dạng ấu trùng (có thể dạng nhộng
hay một côn trùng không trưởng thành hoàn toàn),
dưới nước. Nhộng lột xác nhiều lần (9-14), tất
cả đều dưới nước.
Libellule : métamorphose de
la larve vers l’imago (insecte adulte) = Chuồn
chuồn : biến thái từ ấu trùng đến khi thành hình
(côn trùng trưởng thành)
* Thiếu trùng
(Nymphs, naiads), con cơm nguội, sau
đó tìm đường lên cạn và sống chờ đến khi bộ phận
hô hấp biến đổi cho phù hợp với cách sống trên
bờ, rồi tìm chỗ tiếp tục lột xác để qua giai
đoạn trưởng thành..
Con cơm nguội
* Trưởng
thành : Chuồn chuồn trưởng thành sống ngắn ngủi
chỉ từ 2 tuần đến một vài tháng, truyền giống và
đa số làm mồi cho các sinh vật khác.. ăn ..
Vòng đời chuồn chuồn
Vũ điệu tình
yêu : hình vẽ của Steve Brooks trong Dragonflies.
Loài Mediterranean
demoiselle Calopteryx spp
Hình vẽ vũ điệu
1- Nghi thức ‘ve
vãn’ nơi loàiCalopteryx
haemorrhoidalis : Con trống, cánh màu
sậm, (trên), dẫn con mái đến một nơi thích hợp
để đẻ trứng, hướng dẫn con mái bằng mảng màu đỏ
sáng, phía dưới nơi đỉnh đuôi.
LoàiCalopteryx haemorrhoidalis
2- Một con
trống loài Calopteryx xanthosoma biểu
diễn khả năng thích nghi với vận tốc dòng nước
tại ‘lãnh thổ có chủ quyền.. bằng cách đáp xuống
nước và di chuyển ngược dòng. Con trống thu hút
sự chú ý của con mái bằng cách cong bụng phô bày
mảng màu vàng nơi chót đỉnh đuôi và uốn éo bụng..
Loài Calopteryx xanthosoma
3- Chuồn trống Calopteryx
virgo thu hút sự chú ý của con mái ,
đậu trên cành, phô trương vùng bụng màu hồng
nhạt, nơi ngọn đuôi và toàn bụng..
LoàiCalopteryx virgo
4- Chuồn trống loài Calopteryx
haemorrhoidalis dụ con mái bằng rung
cánh, di chuyển chậm theo hình cánh cung trước
con mái.. và nếu con mái đồng ý, sẽ cho con
trống đậu trên nó, tạo thành một đôi bạn tình
trong vũ điệu giao phối..
Vài
loài chuồn chuồn :
* Tại Hoa Kỳ
và Canada có khoảng 470 loài chuồn chuồn. Phân
chia thành các nhóm mang tên Skimmer, Pennant,
Forktail, Dragoler, Meadowhawk, Glider,
Saddlebag… kèm theo các cụm từ mô tả màu sắc và
hình dạng của thân chuồn chuồn.. Washington có
76 loài ; Oregon có 93 loài gồm 64 dragonflies
và 29 damselflies ; California có khoảng 100
loài (60 dragonflies và 40 damselflies).
Loài thường
gặp nhất tại Bắc Mỹ là Common green darner (Anax
junius), dài khoảng 7cm, có ngực màu xanh lục
sáng. Hai con trống và mái có màu khác nhau nơi
bụng : con đực màu xanh lam = blue, con mái
bụng màu nâu đỏ.
Common green darner (Anax junius)
* Tại VN, họ Gomphidae (chuồn
chuồn ngô), gồm 24 loại và họ Libellulidae (chuồn
chuồn mương) (48 loài).. Aeshna melaniclera,
họ Aeshnidae, loài chuồn chuồn xanh’ (tên Tàu là
Thanh đình hay Thanh linh). loài Crocothemis
servilia, họ Libellulidae, chuồn chuồn đỏ (Xích
thanh linh).
Họ Gomphidae (chuồn chuồn ngô)
Họ Libellulidae (chuồn chuồn mương)
Aeshna viridis
Họ Aeshnidae
Thanh
đình (chuồn chuồn xanh)
Loài Crocothemis servilia, họ Libellulidae(con
trống)
Loài Crocothemis servilia, họ Libellulidae(con
mái)
Chuồn
chuồn đỏ (Xích thanh linh)
* Những
phát minh khoa học nhờ chuồn chuồn
*
Cánh và cách bay
(Xin xem hình
Cánh trong phần phụ lục cuối bài)
Chuồn chuồn đập cánh, 4 cánh độc lập với nhau
Chuồn chuồn có một khả năng bay kỳ diệu nhờ
cấu tạo của đôi cánh. Chuồn chuồn có thể bay tới
trước, bay ngang, bay dọc, bay lùi, lượn, bay
vút lên cao, đáp xuống.. Khả năng khéo léo này
phần lớn là do những bắp thịt để bay (flight
muscles) rất mạnh và do sức mạnh của các bắp
thịt này.. Cánh chuồn chuồn gắn vào synthorax
bằng một nối hẹp và linh hoạt, giúp cánh có thể
vặn khi bay. (xem hình cuối bài).
Chuồn chuồn
đập cánh, 4 cánh độc lập với nhau. Khi bay cánh
chuyển động theo ‘hình số tám'(8). Khi bay bình
thường về phía trước: cánh khởi đầu đập tới phía
trước, sau đó về phía sau, rồi xoay trục, hướng
lên và xuống. Tần số đập cánh khoảng 30 lần mỗi
giây; cánh đập không gây tiếng vo ve (như ruồi).
Vận tốc bay tối đa của chuồn chuồn ngô khoảng
35km/giờ; chuồn chuồn kim bay chậm hơn chỉ 10km/giờ.
Chuồn chuồn bay
(Nhóm chuồn chuồn thiên di bay thành đàn, bay
liên tục nhiều giờ một lúc, bay thật xa, có loài
đến 17000km! chúng giữ năng lượng khi bay xa,
giảm thân nhiệt bằng cách lượn trong không gian..
Nút (notch), ở gần giữa
cánh forewing (cánh dẫn) dẫn nơi mép trước, giúp
chuồn chuồn vặn cánh và có tác dụng như một hệ
thống thu hút chấn động = shock absorber. Pterostigma là
tế bào đặc biệt dày và có sắc tố, gần mỗi đầu
cánh, tác động như một đối trọng, giúp vặn cánh
và tăng độ cứng cho đầu mút của cánh.(hình cuối
bài).
Hình : Kỹ thuật vặn cánh
Hình dạng
và mật độ của gân, dọc theo viền cánh, tác động
như một hàng rào, giúp thay đổi luồng khí, giảm
nhiễu loạn không khí = turbulence khi bay.
Chuồn chuồn ngô
* Các
ứng dụng khoa học:
1- Máy bay
trực thăng : Cách bay và cấu trúc của
cánh chuồn chuồn đã là những chủ đề nghiên cứu
của các kỹ sư hàng không để áp dụng vào việc chế
tạo máy bay trực thăng dân sự và quân sự..
Chuồn chuồnbay
Máy bay trực thăng là phát minh của kỹ sư Mỹ
gốc Nga Igor Sikorsky năm 1940, với chiếc
VS-300, sau đó qua nhiều cải biến đã được Quân
đội Mỹ sử dụng giới hạn trong Thế chiến.
2 (chiếc
Sikorsky SR-4). Các kỹ sư đã ứng dụng nhiều kỹ
thuật ‘học’ từ chuồn chuồn và chim sâu
hummingbird trong việc chế tạo trực thăng, từ
trục quay gắn cánh quạt, đến cấu trúc của cánh
như 4 cánh, hay 2 cánh..
Chuồn chuồn bay
2- Các Micro Air Vehicles : Cánh chuồn
chuồn có một cấu trúc kỳ diệu, ổn định, vững
chắc và nâng được một trọng lượng cao (so với
thân), và bay lượn thật dễ dàng. Các nhà khoa
học đang nghiên cứu để ứng dụng vào công nghiệp biomimetic.
Cánh chuồn chuồn cấu tạo bằng các màng rất mỏng,
được xem là một kiểu mẫu của vật liệu nanocomposite ..Các
ứng dụng đang được phát triển để chế tạo các
microdrones quân sự bí mật..
Xin đọc chi tiết trong “The structure and
mechanical properties of dragonfly wings at role
on flyability” (Comptes Rendus Mécanique).
Cánh Chuồn
chuồn có những phần nhô ra ‘nano protrusion’
tiến hóa, có khả năng phá vỡ tế bào vi khuẩn
khi chạm vào vi khuẩn. Đặc điểm này giúp các nhà
khoa học thiết kế ra những mặt cấy ghép chống vi
khuẩn làm bằng những cột nanopillars, nhái theo
cánh côn trùng bằng các vật liệu tổng hợp. Các
vi trụ nanopillars tạo ra sự biến dạng và giúp
xâm nhập vào các bọc tế bào của các vi khuẩn
Gram (+) và (-) , nhưng không phá vỡ vi khuẩn và
không ly giải vi khuẩn. Nanopillars cũng ức chế
sự phân cắt tế bào vi khuẩn và kích khởi sự tạo
thành các chủng loại = species, có phản ứng với
oxygen, đồng thời gia tăng lượng protein áp-chế
hoạt động oxy-hóa (hiện tượng này cũng xảy ra
khi thử nghiệm với cánh ve sầu).
Xin đọc
thêm : “Antibacterial effects of nanopillar
surfaces..”
Trong thế giới côn trùng, Nhóm
Odonata có hệ thống thị giác vô song. Chỉ chuồn
chuồn là có mắt to, và mắt chứa một con số lớn
các ‘mặt nhỏ = facets’ đa hướng, mẫn cảm với ánh
sáng gọi là ommatidia. Số
ommatidia trong mắt kép của chuồn chuồn tạo độ
‘tinh tường’ cho thị giác. Mắt chuồn chuồn phủ
toàn đầu, tạo cho chuồn chuồn độ nhìn nổi
(stereo) bao trùm 360 độ, nhận định toàn bộ các
màu sắc, phát hiện được tia cực tím và cả độ
phân cực của ánh sáng.
Mắt của Anax junius có trên 28 ngàn
ommatidia. Số ommatidia và ommatidia lớn nhất
tập trung nơi phía trước và đỉnh của mỗi mắt.
Phần trước của mắt điều hành việc bay về phía
trước, còn phần đỉnh dành cho việc tìm ra con
mồi, giao phối và nhận định hình dạng đối phương..
Ngoài
những mắt kép, Odonata còn có thêm 3 mắt đơn
hay ocelli, chỉ có một thấu
kính. Ocelli nằm giữa đỉnh đầu, giữa các mắt kép
và xếp thành hình tam giác, mũi hướng về trước.
Ocelli không có khả năng sắc sảo thị giác
(acuity), nhưng lại mẫn cảm với ánh sáng. Các
dây thần kinh nối ocelli trực tiếp với các bắp
thịt phi hành, và cung cấp các thông tin về vị
trí đường chân trời, giúp chuồn chuồn định hướng..
* Vài ứng
dụng khoa học do nghiên cứu về mắt chuồn chuồn:
– Các nghiên
cứu về hệ thống thị giác của chuồn chuồn giúp
cải thiện việc tìm và theo dõi mục tiêu trong kỹ
thuật robotics. Các nhà nghiên
cứu Úc áp dụng trong parallel micro-fabrication,
integrated optofluidics microchips, biomimetics,
beam shaping, 4D imaging và 3D displaying. Do
các hệ thống đặc biệt, chuồn chuồn có một mạch
thị giác = circuit vision bất thường, khiến
chúng nhìn được cả các sinh vật màu tối di
chuyển. Việc xử lý các hình ảnh thị giác (visual
processing) cần phải xử lý 2 kênh (channels
process) sáng và tối khác nhau, và thay vì phải
đóng/mở một trong 2 kênh như các côn trùng khác,
chuồn chuồn lại có khả năng phối hợp đồng bộ cả
2 kênh một lượt… Nghiên cứu có những ứng dụng
trong kỹ thuật xe không người lái (driverless
cars), chế tạo ra các hệ thống, quan sát được
chung quanh rất rộng, không cần đến các thấu
kính đắt tiền, có thể thay bằng các cảm ứng=
sensors hạng nhẹ.
– Sinh vật kể cả người, có hệ thống thị giác
3-chromatic, nghĩa là nhìn màu sắc qua sự phối
hợp của các màu đỏ, xanh lam và xanh lục, nhờ
các protein mẫn cảm với ánh sáng gọi là opsins..
Chuồn chuồn có từ 10 đến 40 opsins !
Xem thêm tại ‘Dragonfly eyes see the world
in ultra multicolor’ – New Scientist
Dân số thế giới đã lên đến 8 tỷ
người vào cuối 2022 (Số thống kê của Liên Hiệp
Quốc) và sẽ tăng theo mức dự tính là 10.4 tỷ vào
2080. Vấn đề sản xuất thực phẩm cũng thành cấp
bách, và trên 828 triệu người đã và đang bị
thiếu ăn và đói .. (2021)..
Khuynh hướng dùng chất đạm từ côn trùng đã
trở thành chủ đề nghiên cứu trong Khoa thực phẩm.
Dùng côn trùng làm thức ăn (entomophagy) đang
phát triển tại nhiều nơi trên thế giới. Ăn côn
trùng được phổ biến tại Á và Phi châu nhưng vẫn
chưa được Phương Tây chấp nhận rộng rãi. Theo
thống kê thì hiện nay có khoảng 2 tỷ người sống
tại 113 quốc gia đã và đang dùng côn trùng như
một thành phần trong thực phẩm. Khoảng 2100 loài
côn trùng được ghi nhận là có thể ăn được. Các
loài côn trùng thường được dùng làm thực phẩm
gồm bọ cánh cứng (bettles), sâu bướm
(caterpillars), ong (bees), dế (crickets), kiến
(ants) và châu chấu (grasshoppers).
Một số loài còn được xem là đặc sản như bọ cạp (tại
Tàu), Đuông.. Nhọng.. Cà cuống.
Trong số những côn trùng ăn được, Nhóm
Odonata gồm chuồn chuồn ngô và chuồn chuồn kim,
được đánh giá là loài chứa nhiều hợp chất sinh
học và rất bổ dưỡng.
Thống kê của
Macadam và Stockade (2017) ghi nhận trên thế
giới có 58 loài chuồn chuồn ăn được, nhưng chỉ
có loài Ischnura sp là phân bố toàn cầu. Các
quốc gia dùng chuồn chuồn làm thực phẩm được kể
như Bali, Ấn, Tàu, Thái Lan, Nhật, Nam Hàn Lào..
Indonesia và một số nước Mỹ châu (Venezuela,
Ecuador..), Phi châu khác (tuy có phần giới hạn
hơn ).. Ấu trùng của chuồn chuồn (6-7 loài, như
Anax parthenope)) cũng dùng làm thực phẩm.
* Bali là
quốc gia có truyền thống ‘ăn chuồn chuồn’. Dân
nông thôn Bali bắt chuồn chuồn (tên gọi địa
phương : chapun) bằng que có bôi nhựa
dính (nhựa mít, nhựa frangipani..), đem về bỏ
chân, cánh, và nướng nguyên con hay trộn với cơm
và gia vị sau đó bọc trong lá chuối và nướng.
Theo Jerry Hopkins, trong Strange Foods, người
Bali thêm chuồn chuồn vào món hỗn hợp dừa nhão,
mắm cá, tỏi, ớt, nước cốt me..Trộn và gói trong
lá chuối, nướng. món ăn được gọi là pepes..
* Lào bắt
chuồn chuồn bằng.. thắp nến, treo bên trên một
chậu nước. Chuồn chuồn nướng than là món thông
dụng..
* Nam
Hàn, theo Pemberton (trong American
Entomologist Summer 1995) có món ăn “red pepper
dragonfly” (chuồn chuồn ớt) Crocothemis
servilia, thân màu đỏ đậm, rất giống quả ớt..
được trộn thêm vào vài món ăn xem như biểu tượng
của mùa thu..
* South
China Morning Post (2 Sep 2024) có bài
phóng sự “Eating insects in Japan included
dragonflies, a tradition..” mô tả phong tục ăn
chuồn chuồn trong vùng Tohoku Nhật, sau khi bỏ
cánh và chân….
Thành
phần dinh dưỡng :
(Theo “Edible dragonflies
and damselflies (order Odonata) as human food –
A comprehensive review” (Journal of insects as
Food and feed- 24 Jan-2024) Chuồn chuồn,
tùy loài, là một nguồn protein đáng chú ý,
chiếm 45-76% trọng lượng cơ thể (có thể cao hơn
cả thịt động vật). Lượng chất béo, đa số gồm
cholesterol và phospholipid chiếm khoảng -20%; (thành
phần chất béo gồm phần chính là arachidonic và
eicosapentaenoic acid). Carbohydrates
(1-8-9.0%). Ngoài ra còn có chitin, chitosan (trong
exoskeleton), khoáng chất và vitamins (thiamine,
riboflavin..)
Thành phần acid amin trong protein của chuồn
chuồn khá cân bằng và gồm cả các acid amin cần
thiết như methionine, lysine, tryptophane.. (trong
vài loài chuồn chuồn, tỷ lệ lysine có thể chiếm
đến 8% của tổng lượng protein; methionine đến
4%..) Loài Gomphus cuneatus là nguồn cung
cấp isoleucine rất tốt.
Về vitamin, theo Ordonez-Araque, 2022)
Chuồn chuồn có 30mg/kg vitamin C; 31.1mg/kg
vitamin B2; 38.4mg/kg vit B3 ; 54 microgram/kg
vitamin B12.
Về thành phần khoáng chất có thể liệt kê như
sắt, calcium, phosphorus, potassium, Kẽm, Đồng
,Magnesium, Manganese.. Chuồn chuồn loại Pantala
sp có lượng Sắt đến 788 mg/kg và calcium
đến 206 mg/kg..
Hai loài
chuồn chuồn tại Tàu Anax
parthenope và A. elegans chứa
lượng selenium rất cao, theo thứ tự, :
0.193mg/kg và 0.223mg/kg..
* Thành phần
dinh dưỡng của Con cơm nguội :
Tại một số
quốc gia, con cơm nguội cũng được dùng làm thực
phẩm cho người và gia cầm.
Ấu trùng của
các loại chuồn chuồn như Crocothemis sp.; Gomphus
sp.. tại Côn Minh Tàu có
các thành phần protein 58.92% (trong đó
amino-acid 46.03%, gồm cả 8 loại acid amin thiết
yếu); chất béo 25.37%; cùng nhiều khoáng chất
như potassium, calcium , sắt.. Theo phân chất
của bioRxiv , ấu trùng chuồn
chuồn (cơm nguội) loài Pantala sp., bắt
tại ruộng lúa Thái có thành
phần 44.5% protein ; 4.93% chất béo; tro 5.24%;
carbohydrates 9,6%.. 100g cung cấp 263 calorie.
Về các acid béo omega : có 239mg/100g omega-3 và
523.3mg/100g omega-6.
2- Vị
thuốc :
* Tại Nhật,
chuồn chuồn ngô nướng thành than, tán bột dùng
trị ho cho trẻ em.
* Dược học cổ
truyền Tàu, xem các côn trùng
thủy sinh có tác dụng bổ Thận (tạng Thận), phục
hồi chân Khí, nhuận Phế trị ho (chỉ khái) Chuồn
chuồn phơi khô hay vị thuốc Thanh đình dùng làm
thuốc trị liệt dương, xuất tinh đêm (di tinh),
đau cổ họng, ho gà.
* Tại Ấn
Độ (Nagaland-Đông-Bắc Án), ấu trùng (con
cơm nguội) dùng làm thuốc trị lành vết
thương, trị đau nhức toàn thân, và làm thuốc trị
đau mắt. Vùng Manipur ấu trùng nấu chín, làm
thành khối nhão thoa vết thương; Bộ tộc Ao-Naga
(Đông-Bắc Ấn, dùng ấu trùng ngâm làm thuốc bổ
trị thiếu máu, thanh lọc máu.
* Khoa homeopathy dùng
chuồn chuồn Anax imperator làm thuốc
trị Chứng rối loạn tăng động giảm chú ý =
Attention deficit hyperactivity disorder (ADHD),
Chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế=
obsessive-compulsive disorder (OCD), nhức đầu,
sưng mũi và cúm..
* GS
Võ văn Chi (sách dẫn trên) ghi về Chuồn chuồn
trong Nam dược:
.. “ chuồn
chuồn, bỏ cánh, đầu, chân và ruột, rồi rang chín
hoặc sấy khô, tán thành bột’
..” vị hơi lạnh, có tác dụng ích thận, cường âm
; có sách ghi là tráng khí, hưng dương..”. Ông cũng ghi lại :
* Tuệ
Tĩnh trong Nam dược thần hiệu :“Thanh
linh, con chuồn chuồn, hơi hàn, không độc, tráng
dương, cố tinh, ấm thủy, tống ra mạnh..”
* Hải
thượng Lãn ông trong Lĩnh nam Bản thảo :
“Thanh
linh, ta vẫn gọi chuồn chuồn / Vốn thực loài
sâu sinh ở nước Không độc, hơi lạnh, mạnh chân
dương / Sáp tinh, ấm thủy, thông lợi được.
“