Rong biển làm thực
phẩm tại Nhật
Trần Minh Quân
(Rong nâu dùng trích
Fucoidan không thuộc
phạm vi của bài này
)
Nhật hiện được
xem là quốc gia
đứng đầu thế
giới về việc
dùng rong biển
hay hải tảo làm
thực phẩm. Người
Nhật đã biết ăn
rong hay ‘rau'
biển' (sea
vegetables) từ
cách nay trên 10
ngàn năm! Tên
bằng Nhật ngữ
của một số rong
biển thông dụng
tại Nhật như
Kombu, Nori,
Wakame.. đã được
dùng (nguyên
dạng) hầu như
khắp thế giới,
kể cả tại Việt
Nam. Tại Nhật,
khoảng 40 loại
rong được dùng
làm thực phẩm.
"Rau" từ
biển, gần như
không chứa chất
béo, cung cấp ít
năng lượng nhưng
lại nhiều khoáng
chất, vitamins,
chất đạm cùng
nhiều nguyên tố
vi lượng rất
quan trọng cho
dinh dưỡng mà
rau trồng trong
đất không thể
có.
BS Tekuro
Akasahi trong “Vegetables
from the Sea" ghi
nhận : Các
phân chất cho
thấy lượng
khoáng chất
chiếm từ 7 đến
38% trọng
lượng khô của
rong biển. Tất
cả mọi nguyên tố
cần thiết cho
sức khỏe đều có
trong rong, bao
gồm calcium,
sodium,
magnesium,
potassium, iod,
sắt và kẽm.
Trong số các
khoáng chất:
calcium, sắt và
iod được xem là
rất cần cho
những người ăn "kiêng"
(như kiêng sữa,
kiêng thịt ..chỉ
ăn rau-quả=vegan).
4 thìa canh
rong hijiki nấu
chín chứa lượng calcium bằng
nửa số lượng
calcium trong
250ml sữa bò,
đồng thời còn
chứa nhiều sắt hơn
lượng sắt trong
một quả trứng
gà.
Iod,
bình thường
trong thiên
nhiên, ở dạng dễ
bốc hơi và khó
tách riêng,
nhưng lại ở
trong rong dưới
dạng kết hợp với
những phân tử
đường, thành các
dạng ‘ổn định'
mà cơ thể có thể
hấp thu được.
Rau biển
cũng chứa nhiều
vitamin quan
trọng kể cả
Vitamin A (dưới
dạng
beta-carotene),
B1, B2, B6,
Niacin; VitaminC;
Pantothenic acid
và Folic acid.
Vitamin B12
không có trong
rau quả trồng
trong đất, nhưng
vẫn có thể có
trong vài loại
rong biển.
Giá trị dinh
dưỡng của rong
biển có thể được
xem là do ở
những điều kiện
lý tưởng của môi
trường đại dương
mà rong sinh
sống. Tại biển,
rong được tiếp
cận với nhiều
dưỡng chất do
nước biển cung
cấp. Tác động
nhẹ nhàng và
liên tục của
sóng ngầm, giao
dưỡng chất, và
lấy đi các chất
thải, khiến rong
giữ được nhiều
khoáng chất mà
rau ‘đất' không
tích lũy được.
Tuy các nhà
thực vật học xếp
rong biển vào
‘giới' cây cỏ,
nhưng rong chỉ
có một đặc tính
chung quan trọng
nhất với cây cỏ
trên ‘đất' là khả
năng tạo thực
phẩm cho chính
bản thân bằng
cách tổng hợp
các nguyên liệu
từ ánh nắng hay quang
tổng hợp,
carbon dioxide
và nước. Hiện
tượng ‘quang
tổng hợp' nơi
cây xanh trên
mặt đất và nơi
rong biển cần sự
có mặt của sắc
tố chlorophyll;
nơi tảo đỏ và
tảo nâu là những
sắc tố như phycoerythrin;
phycocyanin;
fucoxanthin..
Một
trong những cách
mà các nhà ‘tảo
học’ dùng để
phân loại rong
biển là dựa
theo màu sắc của
rong.
Đa số các
loại rong được
dùng làm thực
phẩm tại Nhật là rong
nâu như wakame,
kombu, arame và
hijiki, mekabu..; rong
đỏ như nori
và kanten.. và rong
xanh như
umibudou, aonori,
và cả loại nhiều
màu tosakanori..
Các nhà khoa
học cũng cho
rằng sự khác
biệt của sắc tố,
có thể giúp rong
thực hiện phản
ứng ‘quang tổng
hợp' ở những độ
sâu khác nhau (
những nơi mà ánh
sáng có những
tần số và độ dài
sóng khác nhau..)
Ngoài sự giống
nhau trong việc
tự làm ra thực
phẩm tự nuôi
sống; giữa rong
biển và cây mặt
đất còn có nhiều
điểm khác biệt
như:
-
Rong không có lá,
không chồi và
không rễ (thật)
-
Rong sinh sản
theo một tiến
trình sơ khai,
không trổ hoa,
tạo hạt.. có lẽ
gần với nấm và
mốc hơn?
-
Vài loài Rong
biển nâu thông
dụng (làm thực
phẩm) tại Nhật.
Tên khoa học: Laminaria
japonica ,
họ thực vật
Laminariaceae.
Tên của FAO:
Japanese kelp;
Laminaire du
Japon.
-
Tàu: hai-dai;
hai-tai; kunpu (Hán-Việt
là Côn-bố)
-
Anh: Konbu,
Total kinbu;
Nhật: makumbu,
ebisume,
hibari-kombu,
hirome.
Rong
Kombu 1 và 2
Kombu, được ghi
trong sách cổ
Nhật như một món
quà dùng để biếu
tặng. và là vật
phẩm để đóng
thuế tại vùng
Tohoku từ năm
797 trước Tây
lịch.
Kombu là loại rong
nâu được
ưa chuộng nhất
tại Nhật. Tại
ngoài khơi vùng
biển lạnh trong
vùng Hokkaido (cung
cấp 95% kombu
trên thị trường
Nhật), kombu mọc
thành những khu
rừng rậm xuống
tới đáy biển.
Rong uốn thân
theo nhịp sóng
và có những mảng
mọc sâu xuống
đáy biển, dài 6
- 7m và có khi
đến 15m. Kombu
hiện được nuôi
trồng, các rong
nổi được thu
hoạch, cắt tỉa
để có những đợt
lá mới liên tục. (Tại
Mỹ hiện đang có
những trại trồng
kombu tại vùng
New England và
Alaska..)
Rong Kombu
được xếp thành
nhiều hạng:
Kombu của vùng Idaka được
xếp hạng thượng
đẳng. Thu hoạch
vào cuối mùa Hè,
ngư dân dùng
thuyền nhỏ, cắt
từng mảng bằng
dao thật bén,
cột vào những
sào tre; sau khi
cắt, rong nổi
lên mặt biển và
được vớt bằng
những cào, làm
bằng gỗ. Sau đó
được phơi nắng
tại bãi biển,
phơi dưới nắng,
khô dần dần..
Phẩm chất của
Ikada Kombu dựa
theo hình dạng
của những mảng
rong, dẹp và to
bản. Rong khô,
sau khi ngâm
nước sẽ lấy lại
màu sắc ban đầu
(khi tươi).
Những đốm khoáng
chất màu trắng
trên mặt phiến
rong có chứa
glutamic acid tự
nhiên nên Kombu
có thể dùng làm
chất tạo vị khá
tốt.
Có thể tạm chia
Kombu thành các
loại: Ma
kombu, lá
dày, dài 1 - 8m
và rộng bản 12 -
30cm, màu nâu
nhạt; Rishiri
kombu,
dài 2 - 3m, rộng
5 - 10 cm, mỏng
và dai cứng, mép
lá ít nhăn nheo,
màu nâu sẫm; Hidaka
kombu, 2
- 7m x 6 - 15cm màu
xanh lục sẫm đến
đen, mềm và dễ
nấu sau khi ngậm
đủ nước; Rausu
kombu,
1.5 - 3m x 20 -
30cm; lá
mỏng nhưng rất
to bản..
Về phương
diện dinh dưỡng:
Kombu là nguồn
cung cấp rất tốt
về glutamic
acid (giúp
tạo vị umami),
đồng thời chứa
lượng iod khá
cao (cao nhất
trong các loại
rong Nhật, gấp
Nori đến 10 lần;
gấp hijiki 4.4
lần) và nhiều
chất xơ dinh
dưỡng. Các
nghiên cứu khoa
học tìm thấy
trong kombu một
nhóm men (hoạt
động tương tự
như alpha-galactosidase
và beta-galactosidase),
có hoạt tính
phân cắt các
phân tử đường,
khó tiêu gây đầy
hơi trong đường
tiêu hóa.
Bảng dinh dưỡng
Trong phương
cách nấu ăn Nhật,
kombu là thành
phần chính để
làm dashi (nước
cốt tạo vị, hay
nước cốt canh cá).
Kombu dùng trong
Cơm-sushi và
trong lẩu
(hot-pot); trong
các món salad
trộn, dưa muối;
trong miso-soup..
Kombu khô
dùng làm món..
‘ăn chơi' (snack).Từ
kombu có những
thực phẩm như Totoro,
Oboro..
Trên thị
trường, Kombu
được bán dưới
dạng rong khô,
tuy nhiên cũng
có dạng kombu
ngâm trong nước
muối, làm khô
không hoàn toàn
= semi solid: shio
- kombu và một
dạng ngâm nước
tương (soy
sauce) ‘kombu no
tsukudani'.
Tên khoa học: Hijiki
fusiformis;
Sargassum
fusiforme
Truyền thuyết
dân gian tin
rằng người Nhật
có được bộ tóc
dày, đen mượt có
lẽ là do theo
một chế độ ăn
uống có chứa
nhiều rong nâu hijiki?
Người Nhật
dùng hikiji làm
thực phẩm từ
thời Yayoi
(100-200 trước
Tây lịch), làm
thơ ca ngợi
hijiki từ năm
880 (Ariwara no
Narihira) và ghi
trong sách dạy
nấu ăn từ 1600s
(Tales of
Culinary), công
thức và cách nấu
ăn.. vẫn như
ngày nay!
Tại Anh,
hijiki đã được
bán như một
‘thực phẩm chức
năng' từ hơn 30
năm..
Rong
Hijiki 1 và 2
Hijiki có
dạng hình ống
nhỏ, màu đen
giống sợi tóc
khi mọc nơi thềm
biển. Hijiki
chứa lượng
khoáng chất khá
cao 34g/ 100g
rong khô; lượng
calcium trong
rong cao bằng
lượng calcium
trong sữa bò. Boshu hijiki,
thu hoạch tại Boshu,
phía Đông nuớc
Nhật, có phẩm
chất cao nhất.
Khí hậu ôn hòa
của vùng biển
này, rất thích
hợp cho sự phát
triển, sinh sôi
nảy nở của
hijiki, nhất là
tại vùng núi đá
ven biển.
Hijiki, thu
hoạch vào mùa
Xuân, thời điểm
rong đạt hương
vị thơm ngon
nhất. Khi nước
triều rút xuống,
hijiki được cắt
và đưa về các
nơi chế biến.
Rong được rửa
sạch và sau đó
toàn bộ được hấp
bằng hơi nước (có
sẵn trong rong),
đến khi mềm và
đổi từ màu nâu
nhạt sang đen;
sau khi hấp,
rong được giữ
trong mát qua
đêm, hong gió
đến khô và đóng
gói.
Tiến trình
chế biến theo
truyền thống,
được các nhà
cung cấp cải
thiện, bổ xung
thành phương
pháp ‘thương mại'
: Rong được nấu
sôi trong nước
lâu hơn nên bị
mất đi nhiều
khoáng chất.
Hijiki ‘thương
mại’ khi sấy khô
, nhiều hạt nhỏ
li-ti ở phần non
của phiến rong,
rời khỏi rong và
tụ lại thành
những đám bụi
đen trong lò sấy;
Nhà sản xuất lấy
bụi này và bán
thành một thương
phẩm riêng; hoăc
trộn bụi này lại
với rong nguyên
thủy để gọi là ‘whole
hijiki'.
Về dinh dưỡng
(Theo Seaweed
Encyclopedia-
Kurakon Food
Corporation):
100gram hijiki
có 55mg sắt;
620mg magnesium;
1.4 gram
calcium; 4.5g
potassium; 43.3g
sơ dinh dưỡng;
270µ Vitamin
A.
Hijiki thường
được trộn vào
các món ăn trong
các món salad
Nhật và các món
canh, trộn trong
cơm làm sushi.
Cơ
quan bảo vệ an
toàn thực phẩm
tại một số quốc
gia như Canadian
Food Inspection
Agency (CFIA);
Food Standard
Agency=FSA (Anh);
và USDA (Mỹ) đưa
ra những khuyến
cáo thận
trọng trong
việc tiêu thụ
hijiki vì
có thể hijiki
chức lượng cao
hơn bình thường thạch
tín=arsenic gây
nguy hại cho sức
khỏe.
Bộ
Y Tế Nhật cho biết:
lượng tiêu thụ trên
4.7g hijiki ngày có
thể đạt mức tối đa
gây hại, trong khi
hiện nay lượng trung
bình tiêu thụ hijiki
tại Nhật chỉ là
0.9g/ngày.
Tên khoa học: Eisenia
argirea, Eisenia
bicyclis.
Tên thông thường:
Sea oak.
Giống như hijiki,
Arame là một
loại rong nâu,
nhưng sống ở độ
sâu hơn và hương
vị tương đối kém
đậm đà hơn. Loại
có phẩm chất tốt
nhất được thu
hoạch tại đảo Ise (vùng
tập trung các
đền đài linh
thiêng của Nhật)
Arame được dùng
làm lễ vật cúng
tế tại Đền
Shinto (Thần đạo)
“Ise Shrine'.
Rong
Arame 1 và 2
Vào cuối mùa
Hè, ngư dân ra
biển hái rong
non, còn mềm, lộ
ra khi triều
xuống, hay có
thể lặn xuống
các khu vực nước
cạn để hái rong
đang bám vào các
giá thể. Rong
được chế biến
như hijiki.
Arame hiện
được nuôi trồng
tại Nhật và Nam
Hàn. Rong có
thân cứng, có
thể dài 1m và
đầu thân chia
thành 2 nhánh
dẹp, dạng oval,
Rong có dạng
phân nhánh giống
lông chim..
Rong chứa
nhiều calcium
(790 mg/100g),
iodine, sắr,
magnesium(530mg),
potassium
(3.2g/100g) và
vitamin A. Ngoài
việc dùng làm
thực phẩm còn
dùng chế thạch
Konjac jelly ,
alginate và làm
phân bón. Rong
có
polysaccharide
‘laminarin và
tripeptide
eisenin, còn có
thêm một lignan
và nhiều hợp
chất có khả năng
kháng sinh.
Arame tuy nổi
tiếng nhưng ngay tại
Nhật, không phải chỗ
nào cũng có bán, chỉ
bán tại các Hạt Mie
và Shimane. Ngoài ra
vì rong arame là
thực phẩm của bào
ngư (abalone) nên
việc thu hoạch arame
bị kiểm soát chặt
chẽ.
4- Wakame
Tên khoa học: Undaria
pinnatifida.
Tên: FAO Wakame
(Anh và Pháp);
Abero marino (Tây
ban Nha).
Tàu: no-wakame;
kizami-wakami ;
qundai-cai.
Anh: Sea
mustard ; Pháp
: Fougère des
mers.
Việc nuôi
trồng nhân tạo
Wakame, tại Nhật
từ thế kỷ 18 và
hiện đang được
phát triển rộng
rãi tại Nhật,
Nam Hàn; Pháp
nuôi trồng từ
1983 tại vùng
Brittany; Úc
trồng tại
Tasmania và tiêu
thụ tại Sydney.
Wakae cũng là
một loài rong
nâu,
tương cận với
Kombi. Các
nghiên cứu hải
sinh học về
wakame giúp các
nhà nuôi trồng,
có thể trồng
wakame non trong
các bồn chứa môi
trường nhân tạo,
rồi sau đó
chuyển rau lớn
hơn sang trồng
nơi thềm biển,
nuôi rong tiếp
tục lớn thêm để
sau đó thu hoạch
bằng máy tự động,
sấy khô bằng
không khí nóng..
Rong
Wakame 1 và 2
Wakame thiên
nhiên, tuy trở
thành hiếm,
nhưng vẫn còn
được sản xuất (dạng
trồng): Những
làng đánh cá
trong vùng biển
Sanriku (Đông-Bắc
Nhật), nổi tiếng
về wakame và các
hải sản ‘sạch'.
Nước biển lạnh,
trong và rất
sạch ngoài khơi
Thái Bình dương,
tạo các môi sinh
thích hợp với
wakame. Wakame
thiên nhiên của
vùng Sanriku, có
vị ngọt đậm đà (các
wakame nuôi
trồng, không thể
so sánh), không
có mùi tanh của
cá; sợi rong mềm
nhưng giòn và
rất ngon.
Quanh vùng
Sanriku, wakame
được thu hoạch
vào đầu mùa Xuân
, từ tháng 2 đến
cuối tháng 3:
đây là lúc rong
phát triển, đạt
độ tối ưu, kích
thước lớn nhất
và phiến rong
bắt đầu trở
thành cứng. Ngư
dân dùng thuyền
nhỏ, hái rong
bằng tay hay
bằng lưỡi hái
cong kiểu lưỡi
liềm; mang về bờ
biển, rửa nhanh
và treo rong đễ
hong khô dưới
nắng trong nhiều
ngày, đến khi
đạt độ khô mong
muốn..
Các nghiên
cứu tại ĐH
Hokkaido tìm
thấy trong
Wakame hợp chất fucoxanthin có
tác dụng làm
tiêu chất béo
trong mô tế bào
(fucoxanthin
cũng dùng trong
mỹ phẩm).
Wakame là nguồn
cung cấp tốt
eicosapentaenoic
acid, một
acid béo loại
omega-3, còn
chứa sodium (872
mg/100 gram),
calcium (100mg),
iodine, vitamin
B1 và niacin..
Tại Nam Hàn,
sản phụ sau khi
sinh được bồi
dưỡng bằng súp miyeokguk (súp
wakame).
Tại Nhật và Âu
châu, wakame
được trộn trong
các món salad
như tofu salad,
dạng tươi hay
khô; dùng nấu
soup như miso
soup. Goma
wakame hay
‘seaweed salad’
là món khá thông
dụng tại Mỹ và
Âu châu tại các
Nhà hàng Sushi.
Trần Minh Quân
9/2023
(Xin
đọc tiếp Phần 2 :
Rong đỏ Nori và Rong
xanh..)