Rong Mứt (Porphyra
spp)
Trần Minh Quân
“Muốn ăn Rong
mứt nấu canh
Mời Anh, chín
thác mười gành,
cùng Em”
Rong biển
thuộc chi
Porphyra được
thế giới biết
nhiều nhất là Porphyra
tenera hay Nori,
loại rong dùng
trong món ăn
Nhật Sushi rất
phổ biến trong
thế giới ẩm-thực.
Ngoài ra còn có
những loài
Porphyra khác,
khá đặc biệt,
rất đáng chú ý
như Porphyra
umbilicalis hay Laver,
dùng làm món
Laverbread, món
bánh truyền
thống của Xứ
Wales, và đặc
biệt hơn nữa là Porphyra
vietnamensis hay Rong
mứt Việt,
mà thành phần và
dược tính lại
được nghiên cứu
khá kỹ lưỡng tại
Ấn Độ!
Chi Rong
Porphyra hay
Pyropia,
thuộc họ
thực vật Bangiaceae,
trong Ngành
Rong đỏ (Rhodophyta),
gồm khoảng
70 loài (có
tác giả ghi
từ 70 đến
200 loài?). Việc
phân loại
chưa được
các nhà
nghiên cứu
đồng thuận.
Rong
Porphyra
sống bám vào
đá, nơi
những vùng
triều, phân
bố tại các
khu vực biển
Bắc Âu, Bắc
Mỹ và Châu Á
(Thái bình
Dương) như
Nhật, Hàn,
Tàu, Việt
Nam và cả Ấn
Độ. Một số
loài được
dùng làm
thực phẩm và
đang được
nuôi trồng
bằng các
phương pháp
nhân tạo và
bán nhân tạo.
Heteromorphic,
sexual life
history of
Porphyra.
Both phases
of the
life...
Theo The
Journal of
Medicinal Food (Số
19-2016), Tong
Porphyra khô
chứa nhiều dưỡng
chất và hợp chất
sinh học gồm
protein, khoáng
chất, chất xơ
dinh dưỡng, acid
béo chưa bão hòa
loại nhiều nối
đôi, carotenoid,
saccharide và
những acid-amin
giống như
mycosporine .
Các hợp
chất như
polysaccharide,
phycobiliprotein
trong Porphyra
được ghi nhận là
có thể có hoạt
tính điều hòa
miễn nhiễm, ngừa
ung thư, hạ mỡ
trong máu và
chống oxy hóa.
1- Porphyra
tenera (Nori)
Xin mời
đọc thêm
nhiều chi
tiết trong
bài “Rong
biển dùng
làm thực
phẩm tại
Nhật" (phần
2)
Nori, dùng
trong Sushi tại
Nhật, có thể gồm
7 loài Porphyra
trong đó P.
tenera là
loài chính (những
loài khác gồm P.
yezoensis, P.
haitanesic (gặp
tại Tàu), P.
pseudo-linearis
P. kunideai, P.
arasaki và P.
seriata (cũng
gặp tại Việt
Nam).
Rong Nori
hiện là loài
được nuôi trồng
nhiều nhất tại
Nhật, Hàn và Tàu;
tổng sản lượng
lên đến cả triệu
tấn mỗi năm.
Người Nhật đã ăn
Nori từ trên
2000 năm trước.
Trên thị trường
thế giới hiện có
nhiều hạng nori
và Nori Nhật
được đánh giá là
phẩm chất cao,
giá đắt, còn
nori Tàu giá rất
rẻ !
Nori thuộc
loài rong biển
đỏ, tương đối
nhỏ, phiến rong
không đều, phân
nhánh, dẹp như
dạng lá cây.
Rong nhày và
nhớt, nhưng bán
chặt vào các giá
thể (như vách đá)
nhờ những dĩa
hút tuy nhỏ
nhưng rất chắc.
Rong có màu lục
khi ở giai đoạn
còn non, sau đó
đổi thành
nâu-tím và
tím-đỏ ở giai
đoạn trưởng
thành. Rong tươi
khi mới vớt màu
đỏ tím nhưng đổi
thành lục xậm
khi sấy khô.
Chu trình
sinh sản của
Nori, trước
đây vẫn được
xem như là
một bí mật :
Rong không
có ‘hạt’ nên
các nhà nuôi
trồng dựa
vào
‘hên-xui,
may-rủi'.
Cho đến
1949, Nhà
thực vật Anh
Kathleen
Drew-Baker
mới tìm ra
phương thức
sinh sản của
Rong.. Kỹ
thuật ‘gieo
hạt’ nay trở
thành một
thương vụ
trị giá 2 tỷ
USD/năm.
.png)
Summary of Porphyra life cycle.
(USDA không phân
biệt Nori và
Laver, bảng dinh
dưỡng dùng chung
cho hai loại).
100
gram Nori tươi (
còn chứa
85.03 g nước)
cung cấp:
2- Porphyra
umbilicalis
(Laver)
.png)
Porphyra
umbilicalis
(Laver)
Tên gọi thông
thường:
Anh (Laver,
Purple laver,
Sloak); Pháp (Laitue
rouge); Nhật (Chishima-kuronori).
Laver là một
loài Rong biển
đỏ, mọc tại ven
biển
Pembrokeshire,
Wales. Rong được
dùng làm thực
phẩm từ thế kỷ
17 tại Vương
quốc Anh. Ngoài
P. umbilicalis,
loài P. purpurea
cũng dùng làm
bánh laver tại
Ái Nhĩ Lan..
Laver mọc
bám trên đá nơi
những vùng
triều-giữa (intertide),
có sóng vỗ mạnh
vào ghềnh đá.
Rong cũng mọc
bám vào trai, sò.
Phiến rong đa
dạng giống như
như một nhóm lá
tụ lại kiểu rau
diếp (laitue),
màu nâu đỏ, nâu
xám và có khi
lục-olive.
Rong, sau khi
thu hoạch bằng
tay, nhổ mạnh
khỏi vật bám; Phơi
khô và đưa về
các xưởng chế
biến tại Swansea
và Goverton.
Rong khô được
nấu chín trong
5-6 giờ, đổi
thành màu
xanh-lục; để
nguội và xắt
mỏng hay nghiền
nát thành khối
nhão dạng keo.
Có thể bán
nguyên trạng gọi
là laverbread =
bars lawr) hay
lăn một lớp bao
bên ngoài bằng
oatmea
Theo
Alan
Davidson
(North
Atlantic
Seafood):
Xuất xứ của
danh từ ghép
‘laver' và
bread không
rõ ? Người
Wales rất
chuộng món
laverbread,
tuy nguồn
cung cấp cho
họ hiện nay
lại từ
Scotland; họ
ăn sáng bằng
laverbread
chiên với
thịt bacon (ba
chỉ mỏng ướp
muối; dùng
làm nước sốt
cho món thịt
trừu quay.
Tại Ái nhĩ
Lan
(Ireland),
laver được
gọi là sloke,
món ăn trong
các dịp lễ
lớn. Laver
có ăn như
salad, thêm
bơ và nước
cốt chanh..
Bữa
ăn sáng với
laverbread

Bánh
mì nướng quết
laver
Nghiên cứu
công bố trên PubMed Nov,
2019 (PMID
31671845) ghi
nhận P.
umbilicalis chứa
lượng protein
khá cao cùng
vitamin và chất
xơ (100g rong
tươi có 3.8g xơ,
cao hơn táo (2g)
và chuối (3.1g).
Về vitamin : 8g
rong chứa đến
9mg vitamin C..
Rong có nhiều
chất chống oxy
hóa và có tiềm
năng ‘ngừa' ung
thư , đặc biệt
là chốn các siêu
vi có thể gây
ung thư như HPV=Human
papillomavirus.
Xin đọc
chi tiết hơn
trong
Laverbread
(Wikipedia,
tiếng Anh)
https://en.wikipedia.org/wiki/Laverbread
Laver từ Bắc
Âu chứa lượng
Iodine khá cao
(16-35mcg/1gram
rong khô), tuy
nhiên nên chú ý
là cơ thể chỉ
hấp thu được
khoảng 37%
iodine tổng cộng
trong rong (Food
Standards
Australia-New
Zealand Sept,
2012). Lượng
Iodine được cho
là tạo ra hương
vị đặc biệt khi
ăn rong..với dầu
olive?
3- Porphyra
vietnamensis
(Rong mứt
Việt Nam)
Các
dạng Rong mứt
Việt Nam
Tại
Việt Nam, rong
không phải là
món ăn thông
dụng, nên ít
được chú ý,
ngoại trừ hai
loại Rau
câu (làm thạch hay
xu xoa) và Rong
mơ (Sargassum).
Rong mứt hay Rau
mứt chỉ
được biết và
tiêu thụ tại một
số địa phương
ven biển miền
Trung như Nam Ô
(Đà Nẵng), Cù
lao Chàm..
Tên Rong Porphyra
vietnamensis được
các GS Tanaka và
Phạm Hoàng Hộ
xác định vào năm
1962, từ một mẫu
rong thu vớt tại
Vũng Tàu.
Rong mọc tại
các vùng ven
biển Đông Nam Á
(Việt Nam,
Indonesia, Thái
Lan ), phía Tây
của Nam Á như
Goa (Ấn),
Pakistan, Yemen;
và cũng gặp tại
Tàu, Taiwan và
Hawaii (gọi là
Limu Pahe'e).
Tại Việt Nam,
Rong mứt có thể
từ P.
vietnamensis (khu
vực trung-triều),
P. crispata (vùng
trong và
cao-triều) và P.
suborbiculata (trung
và hạ-triều).
Tại Đà Nẵng,
rong sinh trưởng
mạnh nơi bờ biển
có ghềnh đá như
Nam Ô, bãi Rạng
thuộc bán đảo
Sơn Chà..
Tác giả Trần
Bá Thoại ghi
trong bài “Mứt
biển Nam Ô : Hái
lượm và sử dụng
thô"
.. ”Mùa hái mứt
biển hàng năm
vào cuối Thu,
đầu Đông. Trong
làng Nam Ô,
phường Hòa Hiệp
Bắc, quận Liên
Chiểu, có một
xóm chài, phụ nữ
chuyên sống với
nghề hái rong
mứt trong khi
chồng là ngư dân
đánh bắt cá xa
ngoài khơi;
Người Đà Nẵng
thường gọi làng
này là “Xóm mứt".
Những phụ nữ này
‘cạo' mứt biển
rất thủ công với
dao, lưỡi cạo,
rổ và rá.. và
nhiều lắm là có
thêm cái thúng
chai (thuyền
thúng). Họ men
theo các triền
gành đá để đến
các bãi mứt,
ngay từ sáng sớm,
lúc này thủy
triều đang xuống,
để lộ ra những
khoảng mứt biển
tươi non, ướt
láng trên nền đá
như những đám cỏ;
việc của họ là
cắt hái “cạo
càng nhanh càng
tốt'. Nghề cạo
mứt khá vất vả
và nguy hiểm,
bất cẩn có thể
xảy ra tai nạn
nghề nghiệp, nhẹ
thì xước tay,
xước chân; nặng
thì té xuống vực,
chấn thương..
gãy chân, tay.
Mứt biển Nam
Ô sau khi thu
hái, một phần
được dùng làm
thực phẩm ngay
tại địa phương,
còn phần lớn
được phơi khô,
đóng gói.. bán
đi xa hơn..
Rong dạng
phiến, thùy
nguyên hoặc
xẻ, dạng
bông hoa?
Phiến nhẵn,
mép gấp hoặc
nhăn-gấp,
thon nhỏ về
phía gốc,
thành cuống
nhỏ và bàn
bám. Nơi
vùng biển
giàu chất
dinh dưỡng,
rong có màu
tím-đen, nơi
vùng nghèo
dinh dưỡng
rong có màu
xanh vàng..
Dạng
và vi phẫu của
Rong
-Tính theo mg/g
rong khô :
Sodium (24.5 -
65.6) ;
Potassium (1.7 -
3.2); Calcium
(1.4 - 6.1) ;
Magnesium (4 -
5.9)
-Tính theo mg/100g
rong khô: Sắt
(33 - 198) ; Kẽm
(0.9 - 3.2) ;
Đồng (0.5-1).
- Cùng nhiều yếu
tố khác như
Manganese,
Cobalt, Nickel..
- Thành
phần dinh dưỡng: (theo
Saurabh Bhatia
trong
International
Journal of Pharmacy
số July 2015).
Nước chiết bằng
nước và alcohol
có thể có các
tác dụng trên
qua các thử
nghiệm tiêu
chuẩn về chống
sưng và đau, khi
thử trên chuột.
Hoạt tính trị
ung loét bao tử
được đối chứng
với omeprazole.
(Avicenna
Journal of
Phytomedicine Số
5-2015).
Xin đọc
thêm trên PubMed
( PMID 25767759)
Hoạt tính này
do Porphyran (liều
thử nghiệm
200-500 mg/kg
trọng lượng thú
thử. Một số tác
dụng được ghi
nhận như tăng
trọng tuyến
thymus, tụy tạng;
tăng số lượng tế
bào lympho, tăng
lượng leukocyte,
và tăng hoạt
động thực bào (International
Journal of
Biology
Macromolecules
Số 57-2013).
Polysaccharides
trong Rong có
hoạt tính kháng
khuẩn trên nhiều
vi khuẩn gramn
(+) và gram (-)
như
Staphylococcus
aureus; B.
subtilis;
P.aeruginosa..
cùng một số nấm
như Aspergillus
niger; A. flavus (Pharmacognosy
Research Số
2-2010). PubMed (
PMID : 21808539)
Trần
Minh Quân 9-2023