Trần Minh Quân

 

 

Mũi và Mùi   (bài 2)

Mùi hương và Kỹ nghệ hương liệu

                                        

                                                                                                                       Trần Minh Quân
 

                          
                    

 
Vẫn theo BS Lư Lê (xin đọc phần 1) th́:
 
'Mùi (thơm hay hôi) được phân tích tại hai phần khác nhau của năo bộ:
 
Độ nồng (intensity) của mùi được tiếp nhận nơi thể amygdala của năo bộ.
 
Cảm giác khoan khoái, dễ chịu (hedonic) được tiếp nhận tại phần năo bộ ở phía trước của vỏ năo (orbitofrontal cortex).

Năo bộ 'nhận' tín hiệu rồi phân tích mùi hương rất nhanh: Một mùi hương được nhận định là thoáng nhẹ hay nồng, là thơm hay không thơm (gây dễ chịu hay khó chịu) với vận tốc nhanh hơn tia chớp.. và tạo ngay ra phản ứng của cơ thể. Do đó khi ngửi thấy một mùi thơm gây khoan khoái chúng ta sẽ tiếp tục hít ngửi, trái lại sẽ nhăn mặt, quay đi khi gặp một mùi gây khó chịu (Cần ghi nhận là khó có thể định nghĩa được là mùi nào sẽ gây khoan khoái hay gây khó chịu, v́ đây là cảm xúc của từng cá nhân...

 
                                        V́ sao chúng ta ngửi được các mùi?
 

 
     Đối với Kỹ nghệ hương liệu: hai danh từ thường được dùng là Fragrance và Parfum. Trên nguyên tắc Parfum hay Perfume là một hổn hợp những tinh dầu có mùi thơm (fragrant), hay những hợp chất thơm, cùng các phụ gia khác và các chất giúp ḥa tan dùng trong mục đích tạo ra những mùi dễ chịu gây cảm giác khoan khoái (hedonic).. và như thế khi nói đến Parfum phải chắc chắn là..thơm?
 
Theo lịch sử, được phối kiểm bằng các cuộc khai quật khảo cổ học th́ con người đă biết sử dụng mùi thơm của các loại hoa từ thời xa xưa:

Tại Pyrgos (Cyprus), các nhà khảo cổ (2005) đă t́m được một.. xưởng sản xuất  hương liệu.. cách nay đến 4000 năm, với trên 60 nồi chưng cất cùng với những dụng cụ pha chế và những chai, lọ để đựng tinh dầu..

 
                                             Les parfums dans l'Antiquité

 
Ngay từ Thế kỷ thứ 9, nhà hóa học người Ả rập, Al-Kindi đă viết cả một tập sách về tinh dầu thơm, công thức và kỹ thuật pha chế, để tạo ra những mùi hương khác nhau..

Nhà hóa học Ba tư, Ibn Sina là người đă t́m ra phương pháp chưng cất để ly trích hương liệu từ cây cỏ.

Tại Âu châu, ngay từ thế kỷ 12, việc pha chế hương liệu đă trở thành một nghệ thuật với nhiều công thức khác nhau. Các quốc gia đứng đầu là Ư, Pháp, Đức.. Vùng phía Nam nước Pháp đă trở thành một vùng chuyên trồng hoa để trích lấy hương liệu.. Vùng Grasse là vùng nổi tiếng nhất của Pháp và Sicily, Calabria là những vùng nổi tiếng của Ư.. và cho đến nay Pháp và Ư vẫn được xem là những Trung Tâm sản xuất hương liệu của Âu châu..

 

 

 
Musée International de la Parfumerie : Salle séminaire Grasse
 
(Viện bảo tàng nước hoa quốc tế: Pḥng hội thảo Grasse)

 

 

 
Musée International de la Parfumerie de Grasse | Histoire |
 
Viện bảo tàng nước hoa quốc tế ở Grasse | Lịch sử |)
 

 
 Làm thế nào để thẩm định một mùi hương?

Khi thẩm định một mùi hương, các chuyên viên trong ngành hương liệu/ mỹ phẩm thường dùng một ngôn ngữ chung (được mọi người đồng ư) để diễn đạt:

Mùi hương ngửi được trước nhất  được gọi là top note. Nốt (như kiểu nốt nhạc) dầu của mùi hương đến từ những tinh dầu bay hơi sớm nhất nên mùi hương chỉ thoáng qua rồi mất đi. Nốt đầu rất quan trọng với nhà sản xuất v́ trong đa số trường hợp, đây là nốt 'quyết định' cho việc chọn mua sản phẩm của khách hàng. Top note c̣n được gọi là head note.

Kế tiếp là những middle note hay nốt giữa đọng lại khá lâu. Nốt giữa xuất hiện ngay trước khi nốt đầu biến đi. Nốt giữa có thể được xem là 'tâm điểm' của mùi hương nên c̣n được gọi là heart note.

Sau cùng là base note hay bottom note = nốt cuối thoang thoảng cả 24 giờ sau.. Sự phối hợp của Nốt giữa và Nốt cuối tạo thành mùi     chính của mùi hương.

 

 
Việc thẩm định mùi hương đ̣i hỏi một khả năng 'thính mũi' đặc biệt, có thể do bẩm sinh của một số rất ít người.. được phong là 'Chuyên gia ngửi mùi có chứng chỉ (certified). Trên thế giới chỉ có khoảng..200 người được xếp vào hạng.. top noses. Những 'chuyên gia' này chỉ ngửi thoáng mùi hương đă phân biệt được ngay sản phẩm chứa hương liệu của những loài hoa nào và ước lượng được cả tỷ lệ của tinh dầu trong mùi hương..

Nguyên liệu để chế tạo hương liệu:

Hương liệu được chế tạo từ những nguyên liệu tự nhiên (gốc động vật và thực vật) và tổng hợp khác nhau. Tinh dầu từ cây cỏ được ly trích bằng nhiều phương pháp, thích hợp cho từng nhóm cây và tùy theo bộ phận của cây (lá, hoa, vỏ hay rễ). Các loại tinh dầu c̣n được pha chế trong các pḥng thí nghiệm để tạo ra những mùi hương 'riêng biệt'..khi thoáng ngửi th́ giống nhau nhưng sẽ khác nhau sau..vài giờ..

Nguyên liệu:

-1/ Cây cỏ:  Cây cỏ được xem là nguyên liệu chính để chế tạo tinh dầu. Hương liệu trong cây cỏ có thể nằm trong những bộ phận khác nhau của cây tùy theo loài. Một cây có thể cung cấp nhiều loại mùi hương như trường hợp cây ng̣: mùi của phần thân khác với mùi của hạt.. Lá, hoa và vỏ trái của cây Cam cung cấp những loại tinh dầu khác nhau (petitgrain, neroli và dầu cam.

- Vỏ cây: thường là vỏ thân cây quế, cascarilla, sassafras.

- Hoa và nụ hoa: đây là nguồn quan trọng nhất cung cấp những tinh dầu có mùi thơm. Hoa hồng và hoa nhài đứng đầu trong danh sách rất nhiều loài hoa được sử dụng để lấy tinh dầu như geranium, ylang-lang..

- Quả: Quả tươi như táo, dâu, cerise.. không cung cấp tinh dầu khi ly trích, và những mùi của các loại quả này dùng trong kỹ nghệ hương liệu đều là mùi tổng hợp. Đa số hương liệu trích được từ quả đều lấy từ phần vơ của quả như vỏ cam, vỏ chanh. Vỏ bưởi tuy vẫn được dùng nhưng hiện bị thay thế bằng mùi tổng hợp v́ mùi thiên nhiên có chứa sulfur, khi phân cắt gây mùi khó chịu..

- Lá và cành: Lá chanh, rosemary, lavender, patchouli.. là những lá chứa tinh dầu.. Mùi của lá có thể tạo ra nốt 'green' trong sản phẩm.

- Nhựa: Nhựa cây được dùng làm hương liệu từ thời cổ đại và hiện vẫn là những nguyên liệu không thể thiếu trong kỹ nghệ nước hoa. Vài loại nhựa thường dùng như nhũ hương (frankincense), một dược (myrrh), nhựa Peru (Peru balsam).. Nhựa thông là nguồn cung cấp terpenes, dùng làm nguyên liệu để tổng hợp nhiều hợp chất có mùi khác..

- Rễ, rễ củ và căn hành: những cây thường dùng như Gừng, Iris..

- Hạt: như hạt ng̣, hạt hồi, cà rốt, caraway, nhục đậu (cardamom), nutmeg..

- Gỗ thân như gỗ thông, bạch đàn (sandalwood), giáng hương, cedar...

-2/ Động vật: Một vài loài động vật là nguồn cung cấp một số hương liệu rất đặc biệt như:

- Ambergris từ cá voi.

- Civet musk =  xạ hương từ cày hương.

- Castoreum từ rái cá (beaver).

- Deer musk = xạ hương từ hươu xạ.

- Honeycomb từ tổ ong.

-3/ Vài nguồn khác như mùi từ rêu, mùi từ rong biển..

Ngoài những nguyên liệu từ nguồn gốc thiên nhiên, kỹ nghệ hương liệu c̣n sử dụng một số nguyên liệu tổng hợp. Nguyên liệu tổng hợp có thể cung cấp một số mùi hương không có ở trạng thái tự nhiên. Ví dụ như Calone, một hóa chất tổng hợp có mùi hương thoáng, nhẹ mát của không khí ngoài biển khơi, hiện đang được dùng trong khá nhiều loại nước hoa. Nguyên liệu tổng hợp thường được dùng khi các nguyên liệu thiên nhiên không đủ cung cấp hay trở thành khan hiếm ví dụ như trường hợp của linalool và coumarin, tuy cả hai đều có thể ly trích từ các nguồn thiên nhiên nhưng giá thành cao hơn là khi dùng loại tổng hợp từ terpenes. Mùi hương của hoa Lan thường không thể ly trích trực tiếp từ hoa tươi, nên phải dùng loại hương tổng hợp có mùi gần như tương tự.

Xạ hương là một nguyên liệu tổng hợp, rất phổ biến trong hầu như mọi loại nước hoa, tạo nền cho nốt giữa.. Trên thế giới, các nguyên liệu tổng hợp dùng trong kỹ nghệ hương liệu, tập trung trong tay vài Công ty quốc tế như International Flavors and Fragrances (IFF), Givaudan, Firmenich, Takasago..

Phương pháp ly trích:


Tinh dầu thơm được ly trích từ những nguyên liệu thiên nhiên bằng một số phương pháp, tương đối quen thuộc với Công nghiệp Dược. Quá tŕnh ly trích có thể gây ra sự biến đổi của một số mùi hương do dùng đến nhiệt, dùng các dung môi quá mạnh..

Những phương pháp chính gồm:


Ngâm và dùng dung môi:

Đây là phương pháp thông dụng nhất, ít tốn kém và hiện đang áp dụng trong Kỹ nghệ hương liệu/nước hoa. Nguyên liệu thô được ngâm trong dung môi thích hợp có khả năng ḥa tan được tinh dầu có trong nguyên liệu. Thời gian ngâm có thể là giờ hay là tháng. Phương pháp này thường được áp dụng cho các nguyên liệu thuộc loại gỗ, loại cây có sợi, nguyên liệu gốc động vật. Dung môi thường dùng là hexane, di - methyl ether....Tinh dầu sẽ tan trong dung môi.

Khi ly trích dung môi để lấy tinh dầu, có thể dùng các kỹ thuật:


Ly trích bằng carbonic acid lỏng (Supercritical fluid extraction). Đây là phương pháp 'tân tiến nhất, không dùng nhiệt độ cao và carbonic acid không gây phản ứng với dung môi nên tinh dầu lấy được có mùi rất gần, hầu như tương tự như mùi nguyên thủy trong nguyên liệu.

Ly trích bằng ethanol: ethanol có thể dùng để ly trích trực tiếp tinh dầu từ một số nguyên liệu nhưng không dùng được khi ly trích các cây cỏ tươi v́ lượng nước thay đổi trong cây tươi có ảnh hưởng quan trọng trên nồng độ ethanol..

Chưng cất:

Đây là phương pháp 'xưa' và thường dùng để lấy tinh dầu từ cây cỏ như cam, hoa hồng.. Nguyên liệu được bỏ trong nước, đun nóng, lấy nước có chứa tinh dầu và thu hồi tinh dầu bằng cô đọng nước bốc hơi. Chưng cất bằng hơi nước: phương pháp đơn giản nhất, dùng hơi nước nóng để kéo theo tinh dầu rồi ngưng tụ nước có chứa tinh dầu để tách lấy tinh dầu thơm. Áp dụng cho các nguyên liệu loại hoa, lá, và đọt non..

Chưng cất bằng nhiệt khô:
 dùng trong một số trường hợp muốn thu tinh dầu phải hủy nguyên liệu (gỗ).

Chưng cất phân đoạn (Fractionation):
 phương pháp công phu hơn, dùng những cột phân đoạn để thu hồi tinh dầu trong từng giai đoạn chưng cất khác nhau.

Ép lấy tinh dầu:


 
Nguyên liệu được 'vắt' hay ép trực tiếp để lấy tinh dầu, thường dùng khi muốn lấy tinh dầu nằm trong vỏ của các cây thuộc họ Chanh như chanh, cam, quưt..
 

 
Ướp bằng dầu béo:

Chất thơm bị hấp thu do mỡ, hay sáp béo và sau đó ly trích mỡ hay dầu béo bằng ethyl alcohol. Phương pháp được dùng khi tinh dầu không thể lấy được bằng chưng cất, mùi thơm bị hư ngay khi chỉ dùng nhiệt nhẹ. Phương pháp này hiện rất ít khi được dùng v́ phí tổn ly trích quá cao..

 
De la fleur au flacon, les techniques de Parfumerie.
(Từ hoa đến chai, kỹ thuật làm nước hoa)

 

 
Les étapes clés de la fabrica.
(Các giai đoạn sản xuất quan trọng)

 
Fabrication des Parfums.
(Sản xuất nước hoa)

 
Les techniques de fabrication.
(Kỹ thuật sản xuất)

 
Usines extraordinaires] Fragonard à Grasse, une histoire de senteurs.
 
(Những nhà máy phi thường] Fragonard ở Grasse, một lịch sử về mùi hương)

 
Phân loại các thành phẩm chứa tinh dầu:

Kỹ nghệ hương liệu, nói chung, phân chia các thành phẩm chứa tinh dầu thành 7 nhóm chính:


 
Florals/ Single Floral: dựa trên mùi hương của một loại hoa chính. Pháp gọi nhóm này là Soliflore. Ví dụ như thành phẫm Sa Majesté la Rose của Nhà sản xuất Serge Lutens dùng hương liệu chính là tinh dầu hoa hồng.

 
Sa Majeste la Rose Serge Lutens.
 

 
Floral bouquets: mùi hương trộn lẫn của nhiều loại hoa, tuy nhiên toàn bộ vẫn là..hoa. Quelque Fleurs của nhà Houbigant và Joy của nhà Jean Patou thuộc vào nhóm này.
  
 

 

 
Oriental hay Ambered: Rất nhiều thành phẩm dầu thơm nằm trong Nhóm này. Thường có mùi thơm 'ngọt' của ambergris hay labdanum, và pha trộn thêm các mùi vanila, tinh dầu hoa và tinh dầu từ gỗ như bạch đàn.. có khi c̣n thêm mùi long năo (camphor), mùi nhựa của nhang thơm.. tạo thành mùi đặc trưng của Vùng Trung-Đông và Viễn-Á. Các loại nước hoa như Shalimar (của nhà Guerlain), Opium (của Yves St Laurent) được xếp vào nhóm này.
      
 

 

 
Woody: Mùi chính trong thành phẩm là những hỗn hợp tinh dầu trích từ gỗ như agarwood, sandalwood, cedarwood.. Tinh dầu Patchouli có mùi long năo thường được pha trộn trong các thành phẩm thuộc nhóm này như Maderas de Oriente (nhà Myrurgia), Bois - des - Iles (Chanel), Rumba (Balenciaga).
  
 

 

 

 
Leather: Đây là nhóm tinh dầu thơm gợi mùi cùa mật ong, mùi thuốc lá, gỗ và nhựa gỗ sau khi cháy.. Bandit (Robert Piguet) và Jolie Madame (Balmain) ở trong nhóm này.
   
 

 

 
Cyprus = Chypre (Pháp). Mùi thơm căn bản được dựa trên sự pha trộn của các tinh dầu bergamote, rêu oakmoss, patchouli và labdanum. Đa số sản phẩm của Nhà Coty nằm trong nhom này. Mitsouko  của Guerlain cũng trong nhóm này.
 
 

 

 
Fern = Fougère (Pháp) mùi căn bản do pha trộn các tinh dầu lavender,  oakmoss và coumarin. Fougère Royale (Houbigan) là sản phẩm đầu tiên thuộc nhóm này. Đa số nước hoa dành cho Nam giới nằm trong nhóm này như Brut (Fabergé), Drakkar Noir (Guy Laroche).
  
 

 

 

 
Từ khoảng 1945, do có thêm nhiều mùi thơm tổng hợp, và những thay đổi trong phong thái của giới tiêu thụ, sự phân loại trên được bổ xung thêm:

Bright Floral pha trộn hai nhóm Single Froral và Floral Bouquet, ví dụ như thành phẩm Beautiful  (Estée Lauder).

 

 
Green một dạng biến đổi của Chypre, thêm mùi hương của cỏ mới cắt, mùi lá xanh bị ṿ nát và mùi thơm của dưa leo. Ví dụ như Aliage (Ester Laudée)..

 

 
Aquatic, Oceanic hay Ozonic là một nhóm mùi thơm hoàn toàn mới  do nhà Christian Dior đưa ra trong sản phẩm Dune (1991). Trong thành phần có calone mùi thơm tổng hợp được vào 1966. Mùi nhóm này gồm sự pha trộn của floral, oriental và woody..

 

 
Fruity pha trộn hương thơm của các loại trái cây như đào, xoài.. chanh, cassis.. Ví dụ như Botrytis (Ginestet).

 

 
Vai tṛ những chất phụ gia:

Một thành phẩm (nước hoa/dầu thơm) không phải chỉ là một hỗn hợp của những tinh dầu nhưng c̣n cần có thêm nhiều chất phụ;

Tinh dầu, không ở dạng nguyên chất, mà cần pha loăng trong một vài loại dung môi, thường là ethanol hay ethanol có thêm nước, hoặc ḥa tan trong một chất dầu không mùi như dầu dừa đă tinh lọc, hay dầu sáp như dầu jojoba..

Nhiều hóa chất khác nhau giữ những vai tṛ như chống oxy - hóa để giữ cho tinh dầu không bị hư hỏng, hóa chất 'cầm mùi' = fixatives, để mùi hương tồn lại lâu hơn trên da (nhóm này thường gồm những chất nhựa = resins, hương liệu từ gỗ..), Hóa chất giúp pha trộn = Blenders các để tạo ra mùi căn bản cho thành phẩm, thường là linalool, hydroxycotronellal. Phẩm màu giúp tạo màu sắc hấp dẫn hơn. Các nghiên cứu phân chất cho thấy một sản phẩm như dầu thơm/ nước hoa có thể chứa hàng.. trăm hóa chất và những hóa chất này có thể được ghi và cũng có thể không cần phải ghi trên nhăn (xem phần duới).

Phân loại các loại Nước hoa:

Theo Kỹ nghệ pha chế hương liệu (một phần của Cosmetic, Toiletry &Fragrances Association=CTFA), những loại nước hoa được phân loại như sau:

 
Perfume: c̣n gọi là Extract = Extrait. Đây là phần chính của mọi loại nước hoa, chứa lượng tinh dầu cao nhất (20 - 40% tinh dầu trong alcohol), đắt tiền nhất. 50% của loại sản phẩm này là những tinh dầu của nốt cuối. Perfume được dùng bằng đầu ngón tay chậm và thoa lên da, ít khi dùng dưới dạng phun (spray).

 
Esprit de Parfum (EsdP): chứa khoảng 15 - 30 % tinh dầu.

 

 
Eau de Parfum (EdP): là loại phổ thông nhất trên thị trường, giá được xem là vừa.. túi tiền người tiêu thụ, chứa từ 7-14 % tinh dầu. Khoảng 70 % mùi hương của loại này sẽ bay mất, và 30 % c̣n lại, giữ được khoảng 24 giờ..

Eau de toilette (EdT): chứa khoảng 3 % tinh dầu và 80 % của những tinh dầu, tương đối ít này sẽ bay hơi trong ṿng 3 giờ. Loại sản phẩm này thường được dùng bằng cách xịt lên người, và có thể 'giữ' được mùi lâu hơn, nếu 'xịt' vào lược rồi mới chải lên tóc.

 

 
Eau de Cologne (EdC): Được xem là loại 'nước hoa' dùng cho Nam giới. Lượng tinh dầu nằm trong khoảng giữa của Eau de toilette và Eau de parfume (khoảng 3 - 7%). Tên Eau de Cologne h́nh như đă bị lỗi thời (?) nên một số nhà sản xuất đă đổi tên sản phẩm thành Eau fraiche, riêng Công ty Dior lại dùng một tên riêng là Eau Sauvage.
 

 

 
Scented body cream/lotion hay các kem/ nước thoa lên da có chứa hương liệu. Kem chứa khoảng 8% tinh dầu, lotion chứa khoảng 3%. Loại sản phẩm này giữ mùi hương được khá lâu.
 
 
Tuy nhiên, tiêu chuẩn hàm lượng tinh dầu trong các sản phẫm vẫn có những thay đổi trong tỷ lệ tùy theo nhà sản xuất. Một EdP của hăng này có thể 'mạnh hơn' một EdP của một hảng khác. Nước hoa  ghi là dành cho Nam giới, rất ít khi ở dạng EdP hay dạng Cô đặc (Extract) và nước hoa dành cho Phụ nữ hầu như không bao giờ ở dạng EdC. Ngay trong thành phẩm của một hăng sản xuất: Sản phẩm tuy mang cùng một tên nhưng cũng có thể chứa những nồng độ tinh dầu khác nhau.. Dùng một tên chung và kèm thêm một tên phụ như extrême, intense, concentré.. là nồng độ tinh dầu đă khác nhau và có khi.. c̣n khác cả hương liệu. Có thể lấy ví dụ thành phẩm của Hăng Chanel: Pour Monsieur và Pour Monsieur concentré.. tuy cùng tên nhưng hầu như chứa hương liệu pha trộn với những thành phần và tỷ lệ hầu như khác hẳn nhau..

Những vấn đề liên quan đến sức khoẻ và môi sinh:

Nước hoa, chứa trong thành phần rất nhiều hóa chất khác nhau, dù có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, vẫn có thể gây ra những vấn đề liên quan đên sức khoẻ khi dùng..quá mức b́nh thường.

   Trong số hàng ngàn hóa chất được dùng trong Công nghiệp Hương liệu/Nước hoa, rất nhiều hóa chất chưa được thử nghiệm về độc tính ngay trong trường hợp sử dụng đơn độc và dĩ nhiên là .. quên thử luôn..  khi sử dụng phối hợp nhiều chất khác nhau.

 
Hiện nay, ảnh hưởng của hương liệu/ dầu thơm hay nước hoa (đă pha chế) trên sức khoẻ con người được tạm xếp trong 2 nhóm bệnh lư:

Tác dụng về phương diện miễn nhiễm:


Các nghiên cứu y học ngày nay đă đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy một số hương liệu có thể gây ra những phản ứng loại gây suyễn, gây ngứa ngoài da cho những người mẫn cảm. Nhiều hóa chất trong thành phần của nước hoa/dầu thơm có thể gây nhức đầu, phản ứng mẫn cảm ngoài da, buồn nôn..

   Trong một số trường hợp, dùng quá nhiều dầu thơm, nước hoa có thể bị mẩn ngứa ngoài da: các hóa chất như acetophenone, ethyl acetate, acetone.. có trong nhiều loại nước hoa là những chất có tiềm năng gây dị ứng đường hô hấp (tuy nhiên các phản ứng tai hại này cũng c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện của môi trường và nồng độ của hóa chất trong thành phẩm). Có thể đơn cử trường hợp của linalool, được xếp vào loại hóa chất gây khó chịu, gây ngứa cho da, khi bị biến đổi thành những peroxdes, nhưng trong công thức của các nước hoa/dầu thơm lại thường có thêm những chất chống oxy - hóa để ngăn chặn các phản ứng gây biến đổi này.. Ngoài ra, những furanocoumarin có trong tinh dầu trích từ vỏ bưởi và từ cần tây có khả năng gây ra những dị ứng trầm trọng và làm cho da trở thành quá mẫn với tia cực tím..

- Tác dụng gây ung thư:

Một số nghiên cứu khoa học ghi nhận chất xạ hương thiên nhiên có chứa nitrogen như xylene có khả năng gây ung thư, và xạ hương tổng hợp loại polycyclic có thể gây những rối loạn cho sự cân bằng kích thích tố trong cơ thể. Ngoài ra điểm quan trọng nhất là trong số những  hóa chất dùng làm phụ gia, có mặt trong các thành phẩm (nước hoa/dầu thơm), có nhiều chất có khả năng gây ung thư, chưa được nghiên cứu sâu rộng.

Có thể lấy ví dụ của diethylphtalate = DEP, tuy không phải là hương liệu, nhưng được thêm vào mọi loại nước hoa/dầu thơm để cải thiện, giúp giữ được mùi hương lâu hơn khi thoa trên da. Nhóm phthalates được dùng v́ dễ pha trộn và rẻ. European Commission on Endocrine Disruption đă xếp DEP vào nhóm nguy hại loại 1  do những bằng chứng cho thấy chất này gây rối loạn chức năng của các kích thich tố. Phthalates gây 'dậy th́' sớm nơi trẻ gái, làm giảm tinh trùng nơi nam giới, gây khuyết tật nơi hệ sinh sản của bào thai trẻ (nam) khi bà mẹ mang thai tiếp xúc lâu dài với hóa chất này.. (European Union .Directives 2003/5/EC) Health Canada ghi nhận tiếp xúc lâu dài với phthalates có thể bị suy gan và suy thận, nhất là đối với trẻ em (Health Canada. Cosmetics Terms on Labels). Tại Hoa Kỳ, DEP được xếp vào loại hóa chất gây ô nhiễm cho môi sinh và sinh vật hoang dă (US Environtment Protection Agency: Toxic and Priority Pollutants.

Một vấn đề đặc biệt nhất là thành phần của những hóa chất bí mật trong danh từ fragrance: (xem phần luật).

Sau đây là con số hóa chất 'không công bố' trên nhăn của một số thành phẩm (các hóa chất này được gồm chung trong danh từ fragrance).

Coco (Chanel): 18 chất.

Eternity for Men (Calvin Klein): 15 chất.

Eternity for Women 14 chất.

J Lo Grow (Jennifer Lopez): 11 chất.

Acqua Di Gio (Giorgio Amani): 17 chất.

   Quư vị muốn biết thêm chi tiết và tác dụng sinh học của các hóa chất trong thành phần dầu thơm/mỹ phẩm, có thể đọc Tập tài liệu dài 44 trang: Not So Sexy. The Health Risks of Sectert Chemicals in Fragrance của Tổ chức The Campaign for Safe Cosmetics (www.SafeCosmetics.org).

Nước hoa và..Luật pháp:


 
Tại Hoa Kỳ: Kỹ nghệ nước hoa/dầu thơm nói riêng (mỹ phẩm, nói chung) không  được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của FDA: FDA chỉ kiểm soát sự an toàn của Mỹ phẩm qua những thành phần pha chế trong sản phẩm và chỉ đ̣i hỏi là các chất này cần được thử nghiệm để được xem là GRAS (Generally Recognized As Safe = Thường được chấp nhận là an toàn khi xử dụng). Khe hở quan trọng nhất là việc sản xuất Mỹ phẩm được xếp vào Bí mật thương măi (Luật Federal Fair Packaging and Labeling Act of 1973). Luật này tuy bắt buộc các nhà sản xuất phải ghi rơ thành phần các chất trong sản phẩm, nhưng lại đặc miễn cho danh từ fragrance ( Danh từ fragrance, theo luật, là một hổn hợp có thể gồm nhiều hóa chất khác nhau để tạo cho sản phẩm một mùi hương đặc trưng..) Do đó Fragrance là một 'bí mật' không cần công bố. Tính trung b́nh, trong một mẫu nước hoa/dầu thơm có thể có từ 7 đến 20 hóa chất 'bí mật' không phải liệt kê.. Nguy hại hơn nữa là FDA không có thẩm quyền đ̣i hỏi các nhà sản xuất Mỹ phẩm phải thử nghiệm sự an toàn của thành phẩm trước khi đưa ra thị trường..

Tại Âu châu: việc kiểm soát Mỹ phẩm tương đối kỹ hơn: Từ 11 tháng 3 năm 2005, các nhà sản xuất bắt buộc phải liệt kê, (nếu có dùng trong thành phẩm) 26 loại hóa chất trong hương liệu, có khả năng gây dị ứng. Phải liệt kê trên nhăn khi nồng độ các hóa chất này cao hơn 0.01 % trong sản phẩm dùng thoa ngoài da.
Ngoài vấn đề liệt kê không đầy đủ danh sách các hóa chất trong một sản phẩm. Tại Hoa Kỳ c̣n có một vấn đề 'tế nhị' khác:

 
Không như Singapore, có hẳn một đạo luật cấm chuyên chở sầu riêng trên các phương tiện công cộng, đem sầu riêng vào trong khách sạn.. nghĩa là có quyền cấm hẳn một mùi nào mà Nhà nước cho là..không thơm?
 

 
Hoa Kỳ không có một luật nào cấm việc sử dụng ..nước hoa tại nơi làm việc. Có những trường hợp nhân viên xức nước hoa.. quá 'đậm' gây..dị ứng cho ngừởi cùng làm chung quanh nhưng..không ai có thể can thiệp v́ đây là 'quyền tự do cá nhân' được Hiến pháp bảo vệ.. Mùi thơm hay không thơm là tùy người nhận thức.. nên không mùi nào bị cấm..
 
Vài 'kỷ thuật' khi dùng Nước hoa:

BS Lư Lê, sau thời gian cộng tác với Công ty Mỹ phẩm Lancôme đă 'tiết lộ' một vài kỹ thuật dùng nước hoa như sau:

Các chuyên viên về Nước hoa' nhắc nhở quư vị là nên thoa hay tẩm nước hoa lên da, nơi ấm nhất trong cơ thể như cổ, khuỷu tay, cổ tay..để mùi hương ḥa lẫn với cơ thể nhanh hơn..nhưng chớ bôi nước hoa lên những vùng có nhiều tuyến mồ hôi (sebaceous glands) như vùng da đằng sau vành tai, vùng nách..v́ mùi từ cơ thể sẽ làm thay đổi mùi hương của nước hoa rất nhanh..

Tất cả mọi loại nước hoa đều chứa ít nhiều alcohol nên có thể làm 'lấm' hay 'phai màu' quần áo nhất là quần áo loại tơ lụa.. Hăy chờ cho nước hoa khô trên da.. trước khi mặc quần áo.

Các nhà sản xuất Mỹ phẩm thường 'khuyên': Nên thay đổi nước hoa theo từng mùa (xuân, hạ, thu, đông)? tuy nhiên trên thực tế chỉ cần phân biệt thành .. hai mùa: nóng và lạnh, và nếu quư vị ở tại những vùng khí hậu quanh năm không thay đổi.. th́ chuyện đổi nước hoa là không cần thiết.

Mùa lạnh: những phân tử tinh dầu không bốc hơi nhanh như trong mùa nóng, do đó mùi hương sẽ đọng trên da lâu hơn. Quư vị có thể dùng những loại nước hoa nặng mùi (heavy), nồng hay 'warm note'..

Mùa nóng: quần áo mặc thường màu tươi sáng, nên  chọn nước hoa cũng' nhẹ và 'mát' thuộc loại 'cool note'.

Khi chọn nước hoa  ngửi những miếng vải hoặc miếng giấy tẩm nước hoa (thường gửi theo những tờ quảng cáo hay ngay trong các tạp chí thời trang).. không ăn thua ǵ cả v́ mùi hương khi thoa trên da sẽ.. không giống như mùi ngửi được trên mẫu giấy quảng cáo. Thoa một chút nước hoa lên cổ tay, chờ khoảng 20 - 30 phút, ngửi lại cổ tay ḿnh và nếu thấy vẫn c̣n .. thích th́ đây chính là loại nước hoa.. thích hợp.

Thêm vài điều..vụn vặt:


Thế giới của Nước hoa/ Dầu thơm c̣n khá nhiều điều lạ, xin chỉ ghi thêm vài điều..vụn vặt sau đây:

Mùi nước hoa được xem là.. 'romantique' nhất (xin không phiên dịch) là mùi của thành phẩm Le Vainqueur (The Conquess). Đây là loại dầu thơm mà Napoleon đă nhờ nhà pha chế hương liệu Francois Rancé.. chế riêng cho Ông cách đây trên 200 năm: Nhà vua muốn có một mùi hương đặc biệt để phối hợp với mùi hương của Hoàng hậu Josephine.. và khi Napoleon thoa trên da, đến gần Josephine sẽ tạo thành một mùi thơm 'tuyệt hảo'.. Napoleon muốn giữ độc quyền mùi thơm nên đă yêu cầu Rancé không được sản xuất rộng răi mùi này trong 200 năm.. Và Công ty Rancé đă  đưa mùi hương này ra thị trường cách nay khoảng..10 năm. Một chai nhỏ..giá khoảng 80 USD..
                                  
 
                                          Rancé le Vainqueur Eau de Parfum, 50 ml bottle
 

 
Một số người.. không thích mùi hương nào, nhưng lại 'sưu tập' rất nhiều chai, lọ đựng nước hoa.. Chai, lọ đựng nước hoa nhiều khi là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo với h́nh thể, màu sắc khác nhau. Nhà Nina Ricci có lọ nước hoa L' Air du Temps làm bằng thủy tinh, lọ nhỏ nằm gọn trong ḷng bàn tay, nhưng nắp là dạng hai chim bồ câu chụm đầu vào nhau, một tác phẩm của Baccarat..tuyệt đẹp..
                               
 
                                              L' Air du Temps . Nina Ricci
 

 
Riêng quư vị thích 'Phở' , cần chú ư là khi Phở có mùi hương 'nốt cuối' loại Obsession hay Opium rất bền khi dính vào da.. và quần áo..cũng 'vương' mùi..Phở.
    
 
 

 
(Xin mời xem tiếp "MŨI và MÙI" (bài 3) - Hiện tượng quen hơi, nhớ mùi-Pheromones?)
 

 
                                                                                       Dược sĩ Trần Việt Hưng  2/10/2012

 

 

Trở Về Trang Chính