Trần Minh Quân

 

 

MŨI và MÙI (bài 3)  

Hiện tượng quen hơi, nhớ mùi, Pheromones?
 

                                                      Trần Minh Quân
                          

                        
(Trong bài thứ nhất, chúng tôi có đề cập đến mùi cơ thể một cách sơ lược, bài này xin bàn đến những liên hệ 'sâu xa' hơn về ảnh hưởng của mùi hương cơ thể trên khía cạnh tâm sinh lư, đặc biệt nhất là khía cảnh t́nh cảm.. Trong bài này một số vấn đề 'tế nhị và nhạy cảm sẽ đưọc phân tích theo khía cạnh khoa học dựa trên các nghiên cứu về cơ thể, sinh hóa và tâm lư)
    Mùi và Hơi  trong 'Quen hơi và nhớ mùi' được xem chung là những 'mùi cơ thể' theo tiêu chuẩn riêng của những đôi lứa liên hệ. Vấn đề 'thẩm định' thơm hay không thơm là một vấn đề hoàn toàn chủ quan không thể giải thích theo một định luật áp dụng cho danh từ Parfum (xem bài 2)..
                               
 
Why does smell evoke such vivid memories & emotions?
(Tại sao mùi lại gợi lên những kư ức và cảm xúc sống động như vậy?)
 
   
Một số trường hợp nổi tiếng của hiện tượng quen hơi, nhớ mùi đă được ghi chép trong lịch sử  (có thể là thật..hay chỉ là truyền thuyết?), xin được nhắc lại:

 Truyền thuyết về Napoleon: Lịch sử Pháp đă ghi lại những't́nh cảm ươt át' của một nhà Vua, thiên tài quân sự, danh tướng trên chiến trường Âu châu nhưng không kém 'lâm ly' trên 'chiến trường t́nh ái'. Sau khi chiến thắng trong cuộc chinh phạt Ai cập, trở về Paris, Napoleon đă gửi thư về cho Josephine, 2 tuần trước đó với những câu bất hủ: 'Ne te lave pas, J'arrive' (Don't wash, I'am coming home).. và suốt trong những ngày chinh chiến, phải xa rời Paris, luôn luôn nhớ nhung 'mùi ' của Hoàng hậu và Nhà vua đă viết nhiều thư t́nh gửi cho Nàng Josephine với những đoạn như sau: ..'Tu seras en Italie, et je serai encore loin de toi. Adieu ma bien-aimée, un baiser sur ta bouche, un autre sur ton coeur, et un autre sur ton petit absent..'  và c̣n 'nóng bỏng' hơn nữa..'un baiser plus bas.. plus bas que le sein. (Lettres de Napoleon à Josephine - Bibliothèque Municipale de Lisieux).

Hoàng đế Napoléo và Hoàng hậu Joséphine.

 
Truyện kể về Vua Henri III cho thấy chỉ cần 'ngửi' mùi cơ thể của 'đối tượng' là đủ bắt đầu cho cuộc t́nh 'đam mê': Trong bữa tiệc đính hôn của Vua Navarre và nàng Margaret de Valois, Henri bất ngờ lau mặt bằng chiếc khăn tay đă thấm ướt mồ hôi của Marie de Cleves và tuy Marie đang là hôn thê của Hoàng tử Condé, sự đam mê bùng lên và Henry không thể 'tự chế' để có những hành động 'sàm sở'.. Truyện tương tự khác kể về Henry IV, say mê ngay nàng Gabriel.. chỉ v́ đă dùng khăn tay của nàng lau chân mày trong một buổi dạ vũ..

 Thời Trung Cổ, tại Âu châu có 'phong tục' các Bà mệnh phụ, quư phái trao tặng cho các hiệp sĩ.. những khăn tay hay những vật dụng 'riêng' đă 'ướp mùi hương của ḿnh'.. để các chàng mang theo bên ḿnh khi lên đường.. chinh chiến..

 Dược sĩ Mai Tâm, từ Canada, đă gửi đến Diễn Đàn Dược Khoa một câu chuyện: 'Có một cặp đó ăn ở với nhau rất thắm thiết. Cô nàng tuy vừa lớn tuổi hơn lại vừa không đẹp lắm mà sao anh chàng trẻ tuổi đẹp trai lại mê như điếu đổ. Thiên hạ ai nấy đều lấy làm lạ, v́ cô nàng ngoài ra c̣n có bệnh.. hôi nách rất nặng.. Cô ta cũng biết bệnh ḿnh nên cũng cố làm giảm bằng mọi cách. Đến khi biết tin có một vị BS nói có thể giải phẫu bỏ đi các tuyến mồ hôi th́ cô ta rất mừng và muốn tạo một surprise cho chồng nên đi mổ.. Sau đó vài tháng, họ ly dị nhau..'
 
 Mùi hương và T́nh cảm:

  Trên nguyên tắc thật khó để 'nhớ' lại một mùi hương cũ mà cơ thể đă từng ngửi qua. Muốn ghi nhớ 'một sự kiện', năo bộ cần một sự 'tổng hợp' các yếu tố cùng xẩy ra một lúc để đưa vào bộ nhớ. Muốn trở thành 'nỗi nhớ' mùi hương cần phải được liên hệ với các diễn biến khác dùng đến thị giác như.. khuôn mặt, phong cảnh.., thính giác như giọng nói.. và vị giác như món ăn chưa kể đến những yếu tố t́nh cảm khác như sự rung động, sự khoái cảm trong yêu đương (T́nh cũ.. không rủ cũng đến..)

     Các nhà tâm lư học thường giải thích sự kiện ngửi mùi, nhớ lại chuyện cũ bằng danh từ Proust Effect, dựa trên một đoạn văn của Văn hào Marcel Proust trong tác phẩm nổi tiếng? la Recherche du Temps perdu.

    Marcel Proust đă ghi nhận 'Mùi và vị của một chiếc bánh madeleine (bánh bông lan đổ theo dạng một con ṣ) nhúng vào một cốc nước trà nóng có thêm chanh mà ông ăn vào một buổi sáng Chủ nhật tại Combray đă.. bất chợt gợi nhớ lại cho ông những h́nh ảnh của một thời thơ ấu bên bà cô Léonie.

 Proust Effect c̣n được gọi là Nhớ vô thức (Involuntary memory)
 (Mùi madeleine nhắc nhở Proust về không khí gia đ́nh ấm cúng dĩ nhiền chẳng ăn nhậu ǵ đến người khác.. dù cũng ăn madeleine v́ người này.. chẳng có kỷ niệm ǵ với..madeleine?).
    T́nh cảm giữ một vai tṛ quan trọng trong sự ghi nhớ, và một mùi hương 'ghép' chung với một cảm nhận tâm - sinh lư sẽ trở thành một 'kỷ niệm' suốt đời..

     Một vấn đề mà các nhà tâm lư học đă chịu thua là không thể mô tả hoàn toàn được t́nh cảm cá nhân, không thể 'cân, đong, đo, đếm' được nên .. không thể có một định luật chung để mọi người cùng chấp nhận.. mùi nào là mùi 'vừa ư' để có thể.. mê, say, nhớ và nghiện theo kiểu:

               'Nhớ ai như nhớ thuốc lào
                 Đă chôn điếu xuống ..lại đào điếu lên..'

 Yếu tố di thể trong sự cảm nhận và thẩm định mùi:

    Các nhà nghiên cứu về di thể học khi t́m hiễu về các định luật di truyền của Hệ miễn nhiễm đă khám phá được một loạt những dữ kiện về sự lựa chọn mùi hương nơi những.. đôi vợ chồng, gây những bất ngờ khó tưởng tượng..

 
     Nghiên cứu về sự kiện cơ thể có những phản ứng chối bỏ, thải loại những tế bào lạ khi chúng được ghép vào cơ thể (trường hợp ghép thận, ghép tim..) đưa đến giả thuyết là tế bào của mỗi cơ thể được 'bọc' bằng một lớp proteins mà hệ miễn nhiễm nhận định được là của chính ḿnh. Hệ miễn nhiễm c̣n tài hơn nữa là 'ghi nhớ' được cả những ǵ.. không phải của cơ thể ḿnh như những vi trùng gây bệnh xâm nhập để tạo ra những kháng thể giúp diệt các vi trùng xâm lược này, đồng thời ghi nhớ để.. cho dù vài năm sau, vi trùng này trở lại, cơ thể vẫn đề kháng được..

     Một  'đoạn'  trong DNA của chúng ta, gọi là MHC = Major Histocompatibility Complex, sau khi được mă hóa để phát hiện ra các cấu trúc lạ gây bệnh, được xem là 'trung tâm quan sát' (theo danh từ quân đội, là lính trinh sát) của Hệ miễn nhiễm. Khi xác định được tác nhân gây bệnh, Hệ miễn nhiễm sẽ gửi các Tế bào Sát thủ (T-Killer Cell) đến giúp tiêu diệt những tác nhân xâm nhập.

    Khác với đa số gène trong cơ thể chỉ mang một hay hai  yếu tố 'chủ' có 'ảnh hưởng quyết định' đến sự di truyền (như gène định dạng thùy tai: thùy tai có thể dính liền hay rời). Gen MHC mang hàng chục yếu tố chủ cùng gây tác động di truyền (co - dominant). Cơ thể càng có nhiều 'bộ' (allèles) MHC khác nhau th́ càng có sức đề kháng mạnh hơn. Theo định luật tự nhiên, phái Nữ thường bị thu hút 'mạnh hơn' bởi ngựi phái Nam có những bộ MHC khác biệt với họ để khi phối hợp sẽ giúp con cái sinh ra có hệ Miễn nhiễm chống bệnh mạnh hơn.

    Một nghiên cứu tại ĐH Bern (Thụy Sĩ), trên 100 sinh viên lựa từ các trường ĐH khác nhau để tránh sự kiện biết nhau từ trước Các nam sinh viên được cho mặc T-shirt bằng bông vải trong 2 đêm liên tục, SV không ăn thực phẩm nhiều gia vị, không dùng thuốc khử mùi, không hút thuốc, không sex. Ban ngày T-shirt được cởi ra, để trong bao nylon ép kín.. Hai tuần trước khi để các Nữ SV 'ngửi' và thẩm định mùi, các nữ SV được dùng thuốc xịt mũi để bảo vệ màng nhày mũi. Trong giai đoạn rụng trứng (thời kỳ khả năng ngửi của phụ nữ nhạy bén nhất), các nữ SV được ở riêng trong pḥng kín và cho ngửi các mẫu T-shirt.. và đánh giá mùi theo ư ḿnh là..'hấp dẫn', 'dễ chịu' và 'hăng nồng'.

      Kết quả cho thấy các nữ SV thẫm định mùi mồ hôi đánh giá mùi 'thích hợp' nhất là mùi của Nam SV có những allèles MHC khác biệt hẳn với allèles của họ.. Và một mùi hấp dẫn với nàng này lại là một mùi.. 'hăng nồng, khó ngửi với ..nàng kia...

 (Psychoneuroendocrinology Số 34-2008)..

      Theo các nghiên cứu tâm lư học th́: 'Phụ nữ ngày nay thường 'bị thu hút' bởi người Nam có mùi cơ thể.. khác hẵn họ và không mấy bị 'hấp dẫn bởi những người có..mùi hương giống ḿnh..'.

 Một số nhà tâm lư khác c̣n đi xa hơn khi thử nghiệm liên quan đến vấn đề 'đồng tính luyến ái = homosexuality': những người đồng tính phái nam thường chọn mùi cơ thể từ những người nam đồng tính như họ? (Psychology Science Số 16-2005).

    Đa số các thử nghiệm về 'thẩm định 'mùi hương' cơ thể của 'đối tượng' được nghiên cứu theo quan điểm của phái Nữ. Chưa thấy một nghiên cứu nào về quan điểm của phái Nam? Trên thực tế sự chọn lựa một mùi cơ thể tiết ra từ phái Nữ/Nam để bị 'mê hoặc' cũng có thể.. do một di thể nào đó chăng ?(The Smell of Love-Psychlogy Today.com).

     Một nghiên cứu khác do ĐH NewYork thực hiện trên 391 người t́nh nguyện cho ngửi 66 loại mùi khác nhau ghi nhận riêng hai mùi có chứa androstenone gây kích khởi một thụ thể đặc biệt OR704. Các nhà khoa học đă lấy mẫu máu của những người đă ngửi để t́m hiểu thêm về sự liên hệ nếu có của các di thể. Kết quả có 2 loại biến thể của OR704 liên quan đến sự thẩm định mùi của androstenone:

 Những người có allène loại RT/RT cho rằng mùi androstenone là hôi, khó chịu..
 Những người có allene loại RT/WM cho là.. thơm như mùi vanilla..
 Những người RT/RT 'nhận' ra mùi này rất nhanh.. Kết quả này không phân biệt người ngửi là nam hay nữ, đều có phản ứng thẩm định tương tự. (New Scientist Sep-2007).
 
 Mồ hôi và mùi cơ thể:
    Nơi con người, sự kiện đồ mồ hôi là một phương tiện điều hoà thân nhiệt. Mồ hôi khi bốc hơi giúp tạo sự thoáng mát cho da. Diễn tiến đổ mồ hôi được điều khiển từ một trung tâm nằm trong tuyến hypothalamus trong năo bộ nơi tập trung của các tế bào thần kinh nhiệt cảm. Sự hoạt động điều nhiệt của hypothalamus cũng liên hệ đến các tín hiệu từ các thụ thể thân nhiệt nằm trên da. Khi nhiệt độ của da lên cao, điểm định (set point) để gây tạo sự chảy mồ hôi trong hypothalamus tự động giảm xuống, đồng thời hệ thống đáp ứng sẽ tự điều chỉnh tùy theo sự thay đổi của nhiệt độ ngoài da để tiết mồ hôi..

 
 Thông thường có hai trường hợp để hệ thống thần kinh kích khởi sự toát mồ hôi:

 
 Khi nhiệt độ môi trường bên ngoài tăng cao: có sự toát mồ hôi trên toàn cơ thể..

 Khi cơ thể chịu một cảm xúc (emotioal stress): mồ hôi thường chỉ toát ra nơi bàn tay, bàn chân, nách và có khi nơi trán..

    Mồ hôi không phải chỉ là nước, nhưng là một dịch lỏng chứa khoảng 0.2 đến 1 % chất ḥa tan. Khi một người di chuyển từ một khí hậu lạnh đến vùng khí hậu nóng, hệ thống mồ hôi sẽ thay đổi để thích ứng với môi trường mới: vận tốc/khối lượng của sự toát mồ hôi gia tăng và nồng độ chất ḥa tan trong mồ hôi giảm xuống. Khối lượng nước trong mồ hôi bị mất thay đổi rất rộng: từ 100 cho đến 8000 ml/ ngày, và lượng muối Na bị mất có thể lên đến 350 milimole/ngày (trong các điều kiện khó nhất). Khi tập thể dục nặng, lượng nước bị mất theo mồ hôi có thể lên đến 2 lít/ giờ. Tại vùng khí hậu mát, không tập thể dục, ít chảy mồ hôi lượng Sodium bị mất rất ít chỉ dưới 5 millimole/ngày..

 Thành phần của mồ hôi:

 Ngoài phần chính là nước, trong mồ hôi c̣n có muối khoáng, lactate và urea. Thành phần muối khoáng thay đổi tùy cá nhân, tùy sự thích ứng của cá nhân với khí hậu, vận động, tùy áp lực tinh thần.. Những con số trung b́nh được ghi nhận: Sodium (0.9g/lít), Potassium (0.2g/l), Calcium (0.015g/l), Magnesium (0.013 g/l).. và những khoáng chất vi lượng khác như Kẽm, Đồng .. Ngoài ra c̣n có những hợp chất như 2-methylphenol (o-cresol) và 4-methylphenol (p-cresol)..

 Tự bản chất, mồ hôi không có mùi, nhưng mùi được tạo ra do các vi khuẩn sống quanh hạch mồ hôi (Xin đọc Bài 1).

     Bên dưới lớp da cơ thể con người có 3 loại hạch khác nhau:


 Hạch tiết chất nhờn (Sebaceous glands):


 Đa số loại hạch này tập trung nơi mặt và trán, và tại vùng cửa khẩu cơ thể như quanh mắt, vùng tai, mũi, vành môi và quanh núm vú. Các hạch này bài tiết các chất có khả năng diệt các vi khuẩn gây bệnh nguy hại. Hạch sebaceous chứa chất béo giúp làm mềm da, bảo vệ da không bị thấm nước, nhưng lại là nguồn gốc gây các mụn trứng cá. Loại hạch này hầu như không tạo ra mùi cơ thể..

 
 Hạch tiết chất nhờn (Sebaceous glands)

 
 - Hạch tiết mồ hôi (Sweat glands) gồm 2 loại:

 - Hạch hay Tuyến mồ hôi toàn vẹn (Eccrine glands) nằm rải rác trên da, nhiều nhất nơi ḷng bàn tay, bàn chân..
    
  - Hạch hay tuyến mồ hôi đầu hủy (Apocrine glands), c̣n gọi là tuyến mồ hôi dầu chỉ tập trung trong những vùng nách, vùng bộ phận sinh dục. và những vùng có nhiều lông. Tuyến mồ hôi này chính là 'thủ phạm gây rắc rối cho vấn đề.. mùi mồ hôi. Tuyến apocrine chỉ bắt đầu hoạt động sau thời dậy th́. Các tuyến này ở Nam giới to hơn so với nơi phụ nữ. Vi khuẩn sinh sống quanh tuyến gây ra những mùi đặc biệt và mùi lan tỏa mạnh do sự trợ lực tạo thêm không gian của lông và đặc biệt nhất là bài tiết một số hợp chất loại steroid được các nhà nghiên cứu đặt tên là pheromones? (xem phần dưới).
                
 
                              Hạch tiết mồ hôi (Sweat glands)

 
 Mùi tại vùng nách và vùng kín:

 Tuy đa số đều cho rằng những mùi từ nách và từ vùng kín là những mùi 'hôi' nên thường gọi là 'mùi hôi nách', 'mùi hôi háng' nhưng trên thực tế về phương diện sinh học không có mùi nào, tự bản chất được xếp vào loại..'hôi'..

    Về phương diện tâm lư học, khi nói: mùi thịt thối đáng kinh tởm th́ cũng như nói.. cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp? v́ tự bản chất đâu có sự liên hệ giữa 'đẹp' và cảnh. Thật ra, thịt thối và phong cảnh đă được con người 'cảm nhận' theo như những cảm tính cá nhân. Và những cảm tính này thay đổi theo nhiều yếu tố như chủng tộc, cấu tạo của di thể..

    Rất nhiều thí dụ về chủng tộc, văn hóa như mùi sầu riêng, mùi fromage Camember, mùi Mắm ḅ hóc.. mùi 'đậu hủ thối' (xin xem bài bài viết về loại đậu hũ này của cùng tác giả).

 J.A Rogers trong Sex and Race đă đưa ra những nhận xét về sự 'hờ hững, không.. thu hút lẫn nhau giữa các giống dân.. Mùi 'nặng' của cơ thể như người da đen, và mùi' hăng' của người da trắng có thể là một trong những yếu tố giới hạn các cuộc hôn nhân dị chủng?'

 Người Masai (một bộ tộc Phi châu) sợ mùi người da trắng đến mức độ phải mang theo một hương thảo mỗi khi cần gặp hay đến gần người trắng...
 
 Quen hơi, Nghiện mùi theo quan niệm sinh học:

 Theo quan niệm sinh học từ 'quen hơi 'đến nghiện mùi phải trải qua một số giai đoạn:

 Giai đoạn cảm nhận (Odor perception).

    Đây là giai đoạn đầu tiên, người ngửi mùi phải 'cảm nhận' được mùi của 'đối phương' và dĩ nhiên phải thẩm định là 'dễ chịu' theo như 'cái mũi' chủ quan của ḿnh.. Bẩm sinh, con người chưa thể có 'bộ nhớ' để ghi nhận và tồn trữ những mùi đă từng ngửi qua. Trẻ sơ sinh cảm nhận được ngay mùi cơ thể của người mẹ và mùi này sẽ được ghi nhận trong tiềm thức của bé đến suốt đời.. Bé sẽ tự t́m được 'vú' mẹ để được cho bú.. Trong một thử nghiệm, ngực của một số phụ nữ được rửa sạch ngay khi vừa sanh cháu bé, bé sơ sinh được đặt vào vùng giữa hai vú và trong số 30 cháu, 22 đă t́m được ngay vú của bà mẹ để tự nhiên, không rửa.. Sự cảm nhận, thích hoặc chê một mùi nào đó chỉ bắt đầu khi con người đi vào giai đoạn dậy th́..

 Giai đoạn làm quen (Odor adaptation).

 Trong giai đoạn này, người cảm nhận sẽ .. quen với mùi cơ thể của 'đối tượng', sự 'chịu' mùi có thể xẩy ra nhanh hơn khi không có những .. mùi khác kèm theo (như đối tượng dùng thêm hương liệu) và khi đă quen th́ 'ngưỡng' (threshold) để nhận ra mùi sẽ tăng thêm và mùi càng' nồng' th́ càng dễ nhận ra. Một vấn đề sinh học chưa giải thích được là mỗi cá nhân hầu như chỉ 'quen' được một số 'mùi' riêng? như trường hợp mùi hôi/ thơm của nách và vùng kín?

 Giai đoạn nghiện mùi (Odor addict).

 
 Nhà tâm lư học Stanton Peele trong tập sách Love and Addiction đă cho rằng Yêu là một h́nh thức của 'nghiện' như nghiện thuốc? Ông cho rằng  không có sự khác biệt giữa thất t́nh và thiếu.. thuc

 
 Nghiện mùi được xem là một hiện tượng 'nghiện tâm lư = beha vioral addict' liên hệ đến sự gia tăng bài tiết dopamine từ năo bộ. Cảm giác 'khoan khoái' phát xuất từ 'Trung tâm ban thưng= Reward center' trong năo bộ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có một sự 'tổng hợp' các sự kiện cùng một lúc để tạo ra sự 'nghiện mùi cơ thể' . Cảm giác cực khoái khi ái ân, phối hợp cùng với mùi cơ thể đặc biệt có thể đă tạo ra những 'tín hiệu' qua hệ thống dopamine để cơ thể nhận được sự 'ban thưởng' từ năo bộ..Và v́ muốn được 'ban thưởng' thường xuyên hơn nên trở thành nghin?

 (Lư thuyêt này có thể giải thích trường hợp, người vợ hôi nách mà DS Mai Tâm đă kể.. Sau khi giải phẫu, mùi nách thay đổi nên không c̣n tạo được cảm giác' ban thưởng' nơi người chồng...

 J.A Rogers trong Sex and Race ghi lại trường hợp một BS Pháp khi sống tại Haiti có một người t́nh bản xứ đă .. mê mùi nàng 'da màu 'này và chê phụ nữ da trắng là tẻ nhạt..không mùi vị?)
 
 Một cơ quan cảm nhận mới? Bộ phận cảm nhận phụ?

 
 Từ 1813, các nhà khoa học Frederik Ruysch và Ludwig Jacobson đă khám phá ra nơi thú vật một cơ quan cảm nhận 'phụ' mới giúp tạo ra những đáp ứng sinh học. Cơ quan cảm nhn 'phụ' này được đặt tên là Vomeronasal Organ = VNO hay Bộ phận Jacobso.

 
The Vomeronasal Organ, Pheromones, & Mating Behavior
 

 
     VNO nằm tại phần đáy của hốc mũi, bị vách mũi chia làm hai, được cấu tạo bởi một lumen (khoảng trống nội quan) h́nh bán nguyệt thuôn dài. Các tế bào thần kinh của VNO có trục thần kinh chạy đến phần ph́nh của cơ quan cảm nhận mùi (Olfactory bulb). Trên lumen có những thụ thể cảm nhận và những hạch tiết chất nhờn; gần cạnh lumen là những mạch máu có khả năng co giăn, tạo thành một hệ thống bơm/ đẩy để chuyển các 'kích ứng' về lumen. Một ống dẫn rất mỏng nằm trong sàn hốc mũi là đường duy nhất để nhận các tín hiệu hóa học. Nơi con người VNO hiện diện trong giai đoạn bào thai nhưng hầu như biến dạng khi được sinh ra. Tuy VNO là một cơ quan hiện hữu rơ ràng nơi thú vật nhưng nơi con người sự hiện hữu này c̣n gây nhiều tranh luận: Cho đến 1994, đa số nhà cơ thể học chấp nhận là con người có một dạng VNO, đồng thời t́m hiểu thêm về cơ chế hoạt động, h́nh thức 'nối kết' giữa VNO và năo bộ (xin đọc bài viết riêng về VNO và Pheromones).

 Pheromones:

 
 Pheromones theo định nghĩa là những yếu tố hóa học nội tiết giúp tạo ra những đáp ứng 'xă hội = quần chúng' của những cá thể trong cùng một loài. Các nghiên cứu về pheromone được thực hiện rt sâu rộng nơi thú vật, nhất là côn trùng. Pheromone được xem là tác nhân giúp kiến, ong và nhiều sâu bọ khác có được khả năng 'tập họp' thành những tổ chức tập đoàn. Pheromone cũng giúp kiến đánh dấu con đường đă đi.. Nơi thú vật, pheromones trong nước tiểu là hóa cht 'ghi nhận' lănh thổ, một tín hiệu thông tin.. về t́nh trạng sẵn sàng phối hợp để truyền giống..

 
Pheromone ( olfactophilia) nơi thú vật, một tín hiệu thông tin.. về t́nh trạng sẵn sàng phối hợp để truyền giống.

 
 Pheromones được truyền và cảm nhận nơi bộ phận VNO..

 Nơi con người, đă có nhiều nghiên cứu về pheromones và các liên hệ đến 'cách ứng xử' xă hội - t́nh dục (sociosexual behavior.
 (như phần viết về VNO, xin đọc bài viêt riêng về Pheromones).
 Pheromones nơi con người được bài tiết từ các tuyến (hạch) apocrine, tạm thời được chia làm 3 loại:

 Axillary Steroids (Steroid từ nách, háng):

 

 
 Nhóm này gồm 3 hóa chất chính androstenone, androstenol và androstandienone. Đây là các hợp chất được sản xuất từ tinh hoàn, buồng trứng, tuyến apocrine và nang thượng thận. Các pheromones này 'được xem là' (putative) có ảnh hưởng trên phái nữ. Các nghiên cứu đă ghi nhận nhiều 'phản ứng' 'thuận lợi và tích cực' (positive), cảm giác ưa thích và đánh giá sự hấp dẫn của đối tượng (vô h́nh và vô danh) khi để các phụ nữ thử nghiệm 'ngửi' các pheromones. Cảm giác 'thích và không thích' cũng thay đổi tùy cá nhân, tùy môi trường và một số yếu tố khác..

 Các aid dây dài (aliphatic) nơi bộ phận sinh dục nữ:

 
 Chất bài tiết từ bộ phận sinh dục của khỉ cái có chứa sáu loại acid dây dài, gọi chung là copulins. Một trong sáu loại này là acetic acid. Nơi con người, khoảng 1/3 phụ nữ có đủ 6 acid này, lượng copulins tăng cao ở thời kỳ rụng trứng.. và được xem là một 'mùi' có khả năng' hấp dẫn' bạn t́nh. Danh từ olfactophilia được dùng để gọi trường hợp hứng khởi và mê hoặc v́ mùi nơi vùng kín của đối tượng..

 
Aliphatic Compound

 
               Copulins

 
 Loại gây kích khởi VNO:

 Đây là những hợp chất được 'xếp chung', có thể tạo ra những phản ứng loại 'vô thức' (subconscient) khi đi qua VNO.

 
     Pheromone đă có một thời được khai thác thương măi, quảng cáo như là một thứ 'bùa yêu' tạo sự 'thu hút', hấp dẫn đối tượng.. chỉ cần thoa trên người hay xịt trong không khí là đũ làm cho đối tượng 'mê mệt'..Tuy nhiên sự thật ra sao, vẫn c̣n là một nghi vấn chưa được giải đáp.. Xin mời Quư vĩ theo dơi tiếp.. 
 
    
 

 
(Xin mời xem tiếp "Mũi và Mùi  (Bài 4) - Mũi và Mùi trong Y Dược - Chữa bệnh bằng Chất có mùi?)

 
                                      
                                                   Trần Minh Quân 10/10/2012

 

 

Trở Về Trang Chính