Mũi và Mùi (Bài 4)
Mũi và Mùi trong Y Dược
Chữa bệnh bằng Chất có mùi ?
"Le nez de Cléopâtre. s'il eût été plus court
toute la face de la terre aurait changé "
(Blaise Pascal)
Mùi đă ảnh hưởng trên vua chúa, Danh tướng khi đi chinh chiến không quên được mùi của Giai nhân (chưa hẳn là đẹp ?), phải mang theo 'vật dụng' kỷ niệm của Nàng, th́ mũi của Giai nhân cũng không chịu kém. Văn hào Blaise Pascal đă viết: “ nếu mũi của Cleopatra chỉ ngắn hơn một chút (ông không viết ngắn hơn bao nhiêu), th́ bộ mặt thế giới ngày nay đă thay đổi ? Cesar chỉ v́ ‘mê' cái mũi của Cleopatra mà gây ra những cuộc chinh chiến trong vùng Địa Trung Hải..

Statue de cléopâtre
Bức tượng của Cléopâtre
H́nh ảnh đầu tiên của ‘đối tượng' khi chúng ta tiếp xúc là khuôn mặt: “ Ôi, phút đầu lưu luyến ấy". Và cái vẻ đẹp ‘thu hút' của khuôn mặt lại tùy người: có thể là đôi mắt ‘huyền', bồ câu, nai tơ ; vành môi, mái tóc.. một nốt ruồi nhỏ (?), nhưng nổi nhất vẫn là cái mũi! Chúng ta thử tưởng tượng h́nh ảnh của con người .. thiếu cái mũi?
Ngoại h́nh của Mũi hiện vẫn là một ‘nguồn khai thác’ lợi tức của các vị Bác sĩ Thẩm mỹ. Ngành Giải phẫu Thẩm mỹ có riêng một danh từ Rhinoplasty để chỉ việc ‘sửa mũi.
H́nh dáng bên ngoài của Mũi được các nhà ‘nhân chủng học’ xem như là một đặc điểm của chủng tộc. Người Âu - Mỹ có sống mũi cao (ta không ưa gọi là ‘mũi lơ') ; người Á Đông, sống mũi hơi lơm hay ‘mũi tẹt (tây gọi là ‘snub nose). Ngay như tại Âu châu, mũi La mă cũng khác mũi Hy lạp, chưa kể ‘mũi khoẳm' hay mũi quặm; mũi diều hâu (hawk nose), mũi vểnh hay mũi 'nh́n trời = celestial nose ?Thật là đa dạng.
Mũi c̣n trở thành một chủ đề ‘khinh mạn’ như người Do thái thường bị biểu tượng bằng những h́nh vẽ hí họa với cái mũi thật to: “Jewish nose".
Giáo sư Abraham Tamir của ĐH Ben Gurion (Do Thái), sau khi đi một ṿng, qua các Trung tâm Thương mại từ Âu châu qua Israel, chụp 100 bức h́nh về mũi, sau đó công bố trên The Journal of Cranial Surgery. một đề nghị phân loại h́nh dạng bên ngoài của mũi thành 14 kiểu (loại) khác nhau. Ông c̣n đi xa hơn“ nh́n dạng mũi , có thể dự đoán được tính t́nh?’ (có lẽ theo kiểu ‘xem tướng của Phương Đông?). Có kiểu ông ‘phê' là ‘vô duyên, không hấp dẫn' = non - attractive, như ‘mũi diều hâu của Barbara Streisand; và có lẽ là người ăng-lê, nên ông khen các kiểu mũi của Ông Hoàng Anh: Phillip, Công chúa Kate.. là đẹp (?), dễ ưa?
Thật ra, tùy quan điểm mỹ thuật của từng cá nhân: Mũi có thể là vô duyên hay có duyên, hấp dẫn hay không và có cần sửa để thành đẹp hơn? hay theo mốt thời thượng: xỏ mũi, đeo đồ trang sức như xỏ lỗ tai?
Theo thuyết tiến hóa th́ dạng của mũi nơi con người, thay đổi tùy theo môi trường sinh sống. Tại những vùng sa mạc, không khí nóng và khô, thiếu độ ẩm : người vùng này thường có mũi to và hẹp, để không khí đi qua mũi, có đủ thời gian tạo độ ẩm cần thiết. Người Bắc Âu, khí hậu ẩm và lạnh: mũi cao, dài, hẹp để giới hạn luồng không khí đi vào mũi, và để không khí có thời gian ấm đủ trước khi vào phổi (như kiểu mũi của người Eskimo); Tại các nơi khí hậu ẩm - thấp như Đông-Nam Á châu: mũi ngắn và rộng giúp không khí vào phổi nhanh hơn..
Mũi c̣n là một chủ đề ‘văn hóa' khá tế nhị:
- Theo văn hóa ‘Âu-Mỹ': Ngoáy lỗ mũi (nose picking) là một điều ‘cấm kỵ' (taboo) không được làm trước công chúng; nhưng văn hóa Á Đông không coi là quan trọng. Theo khoa Tâm lư học (Tây phương !) th́ ‘ngoáy mũi nhiều' quá là một bệnh, có tên đàng hoàng : ’rhinotillexomania'.
- Lấy tay.. quẹt mũi (allergy salute) cũng là taboo!
- Tại New Zealand, người Maori có phong tục khác lạ là .. bóp mũi bằng hai ngón tay.. khi chào nhau (hongi).
- Người Á Đông Trung cổ (Tàu, Nhật) có phong tục dă man, xem mũi, tai như chiến lợi phẩm trong các trận chiến tranh: xẻo tai, cắt mũi địch quân! Đài kỷ niệm Mimizuka của quân phiệt Nhật là nôi ‘giữ’ đến trên 38 ngàn cái mũi của người Triều tiên bị quân xâm lược Nhật cắt xẻo trong khoảng từ 1592 đến 1598!
Sơ lược về cấu tạo và chức năng của Mũi:
Trong bài 1, chúng tôi đă tóm lược cấu tạo cơ thể học của mũi, chú ư đến nhiệm vụ ‘ngửi' mùi, nhưng trên thực tế, mũi là một cơ quan phức tạp có thêm những nhiệm vụ khác nữa.
Nhiệm vụ chính của Mũi, ngoài ‘để ngửi', c̣n là bộ máy ‘lọc’ không khí từ bên ngoài đưa vào phổi. Mũi vừa bảo vệ, vừa yểm trợ cho chức năng thở: vừa lọc, làm nóng và tạo độ ẩm cần thiết cho không khí, trước khi không khí đến được đường hô hấp.
Lông bên trong mũi và nhất là màng nhày với một chất nhớt (nhày) có tính keo-dính, giúp ngăn cản các vật thể lạ như các chất tạo dị ứng (allegens), các tác nhân có thể gây bệnh, xâm nhập vào phổi. Đây có thể được xem là hàng rào pḥng vệ đầu tiên của Hệ thống Hô hấp, trực diện với khoảng 500 lít không khí đi vào phổi một ngày, trong mỗi giở !Trong khoảng thời gian này, biểu b́ trên màng lót bên trong mũi phải sàng lọc khoảng 25 triệu hạt nhỏ.
Hoạt động của hệ lông/chất nhầy trong mũi đưa chất nhầy vào trong đường mũi - họng, kèm theo với các hoạt động về miễn nhiễm, có liên hệ đến các tế bào của Hệ miễn nhiễm và sự biến dưỡng của các chất nội bào rất quan trọng cho chức năng của mũi. Hốc mũi thông thương với những khoang khác của cơ thể như khoang trán, khoang hàm, khoang tai…
Trong khoang mũi, có 3 khu vực có chức năng riêng biệt:
- Khu vực tiền đ́nh (vestibular): diện tích khoảng 0.6 cm vuông, là khu vực pḥng vệ đầu tiên, có ít mạch máu, gồm những tế bào biểu b́ hóa sừng, xếp thành lớp, trên có lông.
- Khu vực ngửi mùi (olfactory) khoảng 15 cm vuông có rất nhiều mạch máu (xem bài 1).
- Khu vực thở (respiratory): khoảng 130 cm vuông, với lớp chất nhày do các tế bào chuyên biệt tạo ra, là một hệ thống thanh lọc không khí rất hữu hiệu. Bề mặt của khu vực này c̣n được mở rộng thêm bằng những vách ngăn dọc, phân chia hốc mũi thành 3 pḥng (conchea) hay hành lang (turbinate), đồng thời làm rộng thêm hệ thống màng nhầy bằng các lông từ nhỏ li ti đến lớn hơn. Khu vực này cũng có rất nhiều mạch máu. Khu vực phía sau của hốc mũi là vùng mũi - cổ họng (nasopharynx): vùng này được bao phủ phía trên bằng tế bào có lông và phía dưới bằng tế bào có vảy. Vùng này cũng thuộc thành phần của Hệ Miễn Nhiễm.
Do trong 2 khu vực ngửi mùi và thở có rất nhiều mạch máu với khả năng hấp thụ khá cao, nên cả hai khu vực đều có thễ được dùng làm những nơi để đưa thuốc vào cơ thể.
Không khí hít vào và thở ra từ phổi đều phải đi qua đường mũi. Trên thực tế mũi là con đường hô hấp tự nhiên, bẩm sinh và con người chỉ ‘thở’ bằng miệng sau khi cơ thể ‘’bị huấn luyện! (trẻ sơ sinh chỉ thở bằng mũi !). Nhiệt độ của không khí mà chúng ta thở thường thay đổi trong khoảng (-) 50 đến (+) 50 độ C, tùy theo khí hậu nơi sinh sống, và không khí, sau khi đi qua mũi, sẽ được điều chỉnh ở 30 độ C. Hiện tượng điều chỉnh này được thực hiện bởi các lớp màng nhày và mạch máu bên trong hốc mũi. Mũi cũng tạo thêm độ ẩm cho không khí, cũng điều chỉnh để tạo độ ẩm tối ưu khoảng 70%.
- Đưa thuốc vào cơ thể từ đường Mũi:
Có thể dùng đường mũi để đưa thuốc vào cơ thể trong mục tiêu trị bệnh tại chỗ (local) và cả trị bệnh toàn diện (systemic) và chủng ngừa (thay v́ phải dùng đường chích (tiêm). Tác dụng trị liệu tại chỗ được áp dụng cho các loại thuốc như thuốc trị nghẹt mũi, trị dị ứng..Tác dụng trị liệu toàn diện dùng trong các thuốc trị bệnh nhức đầu loại migraine.. và trong thuốc chủng ngừa như ngừa cúm (Flu-mist).
Lợi điểm khi dùng thuốc theo đường mũi:
- Hốc mũi được bao phủ bởi một lớp màng nhày mỏng có rất nhiều mạch máu Do đó, một phân tử thuốc có thẻ ‘đi' qua lớp tế bào đơn độc của mô và ‘vào' thẳng mạch máu, rồi vào cơ thể trực tiếp, không qua giai đoạn chuyển đổi và biến dưỡng tại gan, ruột. Thường chỉ mất khoảng 5 phút để một phân tử thuốc cỡ nhỏ, tạo được một hiệu ứng trị liệu..
- Do đó có thể dùng cách đưa thuốc vào cơ thể, theo đường mũi để thay thế (trong một số trường hợp) cách uống thuốc như thuốc viên, thuốc nang, thuốc nước .. hoặc khi cần thuốc tác động ngay và tránh cho thuốc có thể bị biến đổi khi đi qua đường tiêu hóa (thuốc uống, dù dạng viên hay nước, đều phải qua những giai đoạn bị biến đổi nơi gan, dưới tác động của nhiều enzym (danh từ y - dược gọi là first-pass metabolism).
- Với một số loại thuốc, vận tốc và nồng độ hấp thu trong huyết tương (plasma) khi dùng qua đường mũi, có thể so sánh được với cách chích thẳng vào tĩnh mạch (IV) và có khi c̣n cao và nhanh hơn khi chích qua bắp thịt (IM) và chích dưới da (SC).
- Đưa thuốc theo đường mũi không gây cảm giác đau như khi chích và dễ sử dụng hơn cả thuốc viên..
Những giới hạn của vấn đề ‘dùng thuốc theo đường mũi’
Việc đưa thuốc vào cơ thể, xem như có vẻ thật đơn giản, nhưng trên thực tế c̣n có nhiều vấn đề kỹ thuật khó khăn, không thể áp dụng chung cho mọi loại thuốc.
- Đưa thuốc theo đường mũi chỉ thích hợp với những loại thuốc có tiềm lực, cao (potent) v́ chỉ có thể đưa được một khối lượng giới hạn vào hốc mũi qua dạng bơm-xịt (spray).
- Những loại thuốc dùng thường xuyên và nhiều lần trong ngày, không thích hợp với phương thức dùng đường mũi, v́ có thể gây tác hại cho màng tế bào bên trong mũi, khi dùng liên tục.
- Khó kiểm soát được chính xác số lượng thuốc được hấp thu. Khi đường hô hấp bị nhiễm trùng, lượng thuốc có thể hấp thu, thay đổi rất nhiều, chưa kể lượng dịch xịt vào mũi bị nuốt qua cổ họng, và cũng c̣n các vấn đề kỹ thuật về cơ cấu hệ thống xịt..
Một vài loại thuốc dùng theo ‘phương thức đưa qua đường mũi’:
Thông thường nhất là các loại thuốc để ‘trị liệu tại chỗ’, và vài loại kể sau:
- Nhiều loại thuốc trị nhức đầu (migraine) dùng cách đưa qua mũi để tác động nhanh chóng hơn và tránh được phản ứng phụ gây buồn nôn và ói mửa khi uống dưới dạng thuốc viên (quen thuộc nhất là các ‘triptan’ nasal spray..
- Thuốc nhóm peptides như hormone dùng dạng xịt vào mũi để tránh bị phân hủy khi qua đường tiêu hóa (trường hợp ‘desmopressin, dạng thuốc xịt có ‘sinh khả dụng=bioavailability' cao hơn dạng thuốc uống gấp 30 lần!)'
- Thuốc gây mê, giảm đau (nhóm có thuốc phiện), chống nôn, dùng dạng xịt có tác dụng nhanh và hiệu quả hơn dạng uống.

Dùng thuốc theo đường mũi
Đưa thuốc vào năo bộ qua hệ thống ngửi mùi:
Lớp biểu mô nơi màng nhầy mũi chiếm một diện tích khoảng 120 cm vuông, là vùng thích hợp cho việc chuyển thuốc vào cơ thể; Bên cạnh đó trong hốc mũi c̣n có thêm khoảng 10 vm vuông biểu mô chuyên biệt để ngửi mùi: Các tế bào thần kinh tại khu vực này nối kết trực tiếp với 'phần ph́nh (bulb) của hệ thống ngửi mùi của năo bộ và đây là con đường để năo tiếp xúc được thẳng với môi trường bên ngoài..
Sự vận chuyển thuốc vào năo bộ bị ngăn chặn bởi một rào cản gọi là blood - brain barrier (BBB), ngăn mọi sự thẩm thấu qua mạch máu để vào năo bộ, ngoại trừ các phân tử tan trong lipid (liposoluble) cực nhỏ. Trên nguyên tắc: ‘nếu có thể đưa thuốc qua các tế bào thần kinh theo đường của các tế bào ngửi mùi, th́ sẽ vượt được BBB và đưa được thuốc ‘thẳng vào óc?
Lư thuyết về khả năng đưa thuốc vào thẳng năo bộ qua hệ thống ngửi mùi (olfactory transfer) cho rằng:
- có thể vận chuyển chậm các phân tử thuốc, qua các tế bào thần kinh của hệ ngửi mùi để dẫn đến và nhập vào phần ‘ph́nh' (bulb) của hệ thống ngửi mùi.
- vận chuyển nhanh hơn bằng cách đi qua các khoảng quanh dây thần kinh ngửi mùi, để vào được dịch năo - tủy quanh bulb và sau đó vào được óc..
Lư thuyết này đang được nghiên cứu để có thể áp dụng cho các dược phẩm cần được đưa trực tiếp vào óc như các thuốc trị Alzheimer's , Parkinson…
Dùng chất có mùi để trị bệnh
Đông và Tây đều từng dùng các cây cỏ có mùi thơm.. và cả hôi để trị bệnh.
A- Phương Tây:
Phương pháp sử dụng các chất có mùi như tinh dầu từ cây cỏ (xin xem bài 2) để trị bệnh đă được áp dụng từ thời Cổ Ai cập và La Mă. Dioscorides đă mô tả khả năng trị bệnh của nhiều loại tinh dầu thơm trong Sách thuốc Materia Medica.
Từ khoảng đầu Thế kỷ 19, một số Y, Dược sĩ tại Âu châu đă đưa ra những khái niệm chung về việc dùng các chất có mùi để trị bệnh.
Danh từ Aromatherapy đă được René Maurice Gattefosse đưa ra vào năm 1937 trong tập sách của ông: “Aromatherapie: Les huiles essentielles, Hormones vegetales".
Sau đó việc dùng hương liệu để trị bệnh được ‘hệ thống hóa' và trở thành một Phương pháp trị liệu ‘bổ túc’ (complementary) cho một số trường hợp bệnh lư.
Aromatherapy bao gồm các kỹ thuật trị liệu dùng tinh dầu thơm để xông hơi, để ngửi trực tiếp, pha trong nước để tắm hay ngâm người trong bồn và để xoa bóp ngoài da (trong phạm vi bài này, xin giới hạn chỉ bàn về những liên hệ đến mũi).
Trị liệu bằng tinh dầu thơm, đi qua đường mũi, dựa trên lư thuyết: “Tinh dầu thơm có ảnh hưởng trên năo bộ, nhất là trên hệ thống 'limbic', bằng cách đi qua mũi vào thẳng hệ thống ngửi mùi của năo bộ và hệ thần kinh".
Mùi thơm khi đi thẳng vào năo bộ có thể tạo ra một số hiệu ứng như làm giảm cảm giác đau, tạo sự thư giăn tâm thần giúp bớt âu lo, gây sự khoan khoái và mang thêm ‘sinh lực' cho cơ thể..
Tuy nhiên cảm giác và sinh lực lại là những trạng thái trừu tượng không thể đo lường được bằng các phương pháp khoa học thực nghiệm! Ngoài ra liều lượng mùi thơm khi đưa vào cơ thể (để trị bệnh), cũng là ‘thông số’ kỹ thuật không thể xác định chính xác, chưa kể đến thành phần khoa học khác nhau (của ngay cả cùng loại tinh dầu từ một hương thảo).
Một số Nhà trị liệu ‘chính thống' như BS Stephen Barrett, tuy công nhận là mùi hương có tạo được cảm giác thư giăn, nhưng vẫn cho ‘Aromatherapy là phương pháp trị bệnh ‘xạo và dởm' (!) tạo ra một ngành kinh doanh với con số thương mại lên đến cả tỷ đô la.. do các quảng cáo quá lố kiểu:”giải độc cơ thể, mở cửa trung tâm năng lượng cơ thể (?).., quảng cáo theo kiểu không thể chứng minh! (QuackWatch Aug-2001).
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khoa học về Tinh dầu cũng đáng được chú ư:
- Nghiên cứu tại ĐH Yamaguchi (Nhật) ghi nhận: Tinh dầu chanh, dạng xông hơi, tạo những phản ứng ‘giúp giảm trầm cảm (reduce stress) khi thử trên chuột.. (dùng các test như tạo các điều kiện buộc phải bơi = force swimming test; di chuyển theo mê lộ (maze).. Tác động giảm stress là do ảnh hưởng trên các thụ thể 5-HT (A1) receptors (Behavior Brain Research Số 172-2006).

Trị bệnh bằng tinh dầu giúp thư giăn tinh thần
- Nghiên cứu tại ĐH Ohio State ghi nhận tinh dầu chanh, dạng hơi khi ngửi, có khả năng làm thay đổi tâm tính = mood và giúp thư giăn tinh thần (Journal of Psychoneuroendocrinology March-2008)
- Nghiên cứu tại ĐH Y khoa Taipei (Taiwan) dùng tinh dầu lavender, cho ngửi hơi mỗi lần trong 20 phút; mỗi tuần 2 lần; trong 12 tuần liên tục. để trị mất ngủ nơi phụ nữ. Kết quả ghi nhận: Nhóm ngửi mùi tinh dầu lavender có những cải thiện về giấc ngủ (ngủ được lâu hơn, thoải mái hơn), nhịp tim trong giấc ngủ đều hơn (so với nhóm đối chứng) (Evidence Based Complementary & Alternative Medicine 2012).
Tác dụng của Aromatherapy trên Bệnh nhân Dementia và Alzheimer được thử nghiệm tại ĐH Y Khoa Totton (Nhật), dùng kết hợp các Tinh dầu, theo phương thức cho ngửi hơi: (trong 28 ngày).
- Ngửi tinh dầu chanh và rosemary, mỗi buổi sáng.
- Ngửi tinh dầu cam và lavender, mỗi buổi tối.
Kiểm soát và theo dơi bằng các test tiêu chuẩn khoa học đánh giá t́nh trạng lú lẫn như Gottfried, Brane, Steen Scale, Functional Assessment Staging of Alzheimer's Disease..
cho các kết quả tích cực với các cải thiện rơ rệt về các chức năng nhận thức nơi các bệnh nhân.. ngửi tinh dầu..
Trị bệnh bằng hương liệu
B- Phương Đông:
Dược học cổ truyền Trung Hoa, thường gọi tại Việt Nam là Đông Y, quan niệm: Con người có thất khiếu và Mũi là hai (v́ có 2 lỗ như tai) trong 7 khổng trên mặt.
Trong Ngũ Tạng th́ tạng Phế mở ra ngoài bằng Mũi (mũi c̣n gọi là ‘phế khiếu'). Đông Y cũng cho là Mũi có nhiệm vụ thở và ngửi mùi, những hoạt động này tùy thuộc hoàn toàn vào sự quân b́nh và ổn định của Phế-tạng: Mũi cũng là một con đường để “Tà Khí" (Phong tà) có thể xâm nhập, từ bên ngoài vào phổi và rồi vào cơ thể.
Tà khí (khí độc) nhập Phế gây ra nghẹt mũi, mũi có chất nhầy và không ngửi được mùi. Khi Phế-Nhiệt 'hư', Khí bị nghẽn, tắc, hơi thở bị ngắn và Đông y gọi là suyễn..
Một trong những phương pháp thông dụng nhất được dùng từ lâu đời trong Dân gian Việt Nam (khác Tàu) để ‘khai Phế khiếu" là giải cảm bằng nồi xông. Dùng các lá cây cỏ có mùi thơm như tía tô, hương nhu, cúc tần ô, kinh giới, chanh, bưởi.. bỏ vào nồi, đun sôi và người bệnh trùm chăn kín, hít hơi từ nồi xông.. Công dụng của nồi xông, theo các Thầy thuốc Nam là “Phát hăn, giải biểu" với chủ trị các chứng ‘Ngoại cảm, Phong hàn”; dùng các tinh dầu thơm trong các lá, phối hợp cùng trị nghẹt mũi, thông mũi và làm ngưng chảy nước mũi..
Giải cảm bằng nồi xông
Trong Tố vấn Nội kinh có một đoạn văn ghi:
“.. Khi ngũ hương - Khí đi qua mũi để vào cơ thể: Hương và Qi (Khí) được tàng trữ nơi hai Tạng: Tâm và Phế..” Hiện nay chưa có giả thuyết ‘Tây Y" giải thích các sự kiện này.
Khoa Châm cứu dùng một số huyệt đạo để trị bệnh về mũi như nghẹt mũi, chảy nước mũi, chảy máu cam..
- Huyệt Nghinh hương (thuộc Kinh ‘Dương minh - Đại trường): nằm ở giữa khoảng cách từ chân cánh mũi đến rănh mũi-mồm.
(Trong phương pháp ’nhấn huyệt' (acupressure), có thể đè hay day Huyệt Nghinh hương (Welcoming Perfume LI 20) ở hai bên mũi để trị nghẹt mũi, đau trong hốc mũi ?)
- Huyệt Tố Liêu (thuộc Mạch Đốc) ở ngay đầu mũi, chỗ nhọn nhất trên sống mũi..
- Biệt Huyệt “Nội Nghinh hương", nằm ở lớp niêm mạc bên trong lỗ mũi, dùng châm để trị.. Hỏa vượng bốc lên mắt?
Dược học cổ truyền Ấn Độ (Ayurvedic) có một phương pháp trị liệu: dùng nước để rửa mũi cho sạch gọi là Jala neti: Nước ấm pha thêm muối, đựng trong một b́nh có ṿi chế tạo riêng, để đổ vào hốc mũi; rửa sạch các bụi, vật lạ bám bên trong hốc mũi, rất có lợi cho sức khỏe, thanh lọc chất độc, tăng năng lượng cho cơ thể..
Jala neti (dùng nước để rửa mũi cho sạch )