|
|
MỸ PHẨM và DA
- Kem
chống nắng
Tia
nắng mặt trời được
xem là có lợi cho
sức khỏe nhưng cũng
có thể gây những tác
hại không mong muốn
trên da như gây cho
da bị chóng lão hóa
và xa hơn nữa gây
ung thư da.
Những sản phẩm dùng
để chống nắng (kem,
thuốc thoa=lotion,
thuốc xịt=spray..)
đều được xem như
thuốc bán tự do,
không cần toa bác sĩ
(OTC) tại Hoa Kỳ, (khác
với kem dưỡng da,
kem xóa vết nhăn là
những mỹ phẩm). Do
đó đối với kem chống
nắng, nhãn hiệu,
cách sử dụng, thành
phần hóa chất.. đều
phải viết theo luật
định bởi FDC.
Sản phẩm để thoa
chống nắng đầu
tiên được nhà
hóa học Đức,
Frank Greiter 'phát
minh' vào năm
1946 dưới tên 'Gletschter
Crème' (Crème
glacier)..F.
Greiter cũng là
người đầu tiên
đưa ra khái niệm
về khả năng
chống nắng cùng
ký hiệu SPF
(1962) để đo mức
chống nắng. Tại
Hoa Kỳ, Dược sĩ
Benjamin Green
đã đưa một sản
phẩm chống nắng
làm bằng
vaseline dưới
tên Red Vet Pet,
không mấy hiệu
nghiệm từ 1944..
nhưng sau đó
Công ty
Coppertone đã
mua lại bản
quyền để tạo ra
một sản phẩm
khác bán rất
chạy trong thập
niên 50 là
Copperone girl
và Bain de
soleil..
Bức xạ (Tia) Cực tím
(Ultraviolet=UV
radiation)
Tia nắng mặt trời
gồm 45 % là những
tia cực tím UV năg
lượng cao, 5 % là
những tia thấy được
bằng mắt thường và
50 % là những tia
hồng ngoại
(infrared) năng
lượng thấp.
Vùng cực tím UV là
vùng có độ dài sóng
từ 100-400 nm được
chia thành 3 loại:
Tia UVA (315-400
nm), độ sóng dài
Tia UVB (280-315
nm), sóng trung
bình
Tia UVC (100-280
nm), sóng ngắn
Lớp ozone trong khí
quyển đã hấp thu tất
cả UVC, và 95 % UVB.
Tuy nhiên UVA không
bị hấp thu và UVA
chiếm đến 95 % lượng
bức xạ mặt trời đến
với chúng ta.
UVA còn được chia
thành UVA I (340-400
nm) và UVA II
(320-340nm).
Lợi và hại của
bức xạ Cực tím:
Tia UV có một số
lợi ích cho sức
khỏe, rõ rệt
nhất là trong
việc chuyển biến
Vitamin D. Dưới
bức xạ của tia
UVA (trong
khoảng 290-300
nm), dạng sơ
khởi (provitamin)
của vitamin D3
(7-dehydrocholesterol)
được chuyển
nhanh chóng
thành tiền-vitamin
(previtamin) D3,
để chất này sẽ
chuyển biến từ
từ dưới tác động
của nhiệt thành
Vitamin D3 cùng
với những chất
không hoạt tinh
sinh học
lumisterol và
tacalcitol. Chỉ
cần một thời
gian rất ngắn
khoảng 10 phút
để tay và mặt
phơi trực tiếp
dưới nắng là đã
có đủ lượng
vitamin D cần
thiết/ ngày.
Chịu
bức xạ UV quá mức sẽ
làm tăng sự sản xuất
cáa chất lumisterol
và tacalcitol, những
chất này sẽ được
biến đổi trở lại
thành 'tiền-vitamin'
D3. Vitamin D2 (ergocalciferol)
cũng được tổng hợp
bằng phương pháp
tương tự từ 'tiền-vitamin'
D2 (ergoste rol).
Phơi nắng quá mức
không làm tăng sự
sản xuất thêm các
vitamin D nhưng lại
gây những tổn hại
của lớp mô tế bào
dermis (Xem bài Kem
dưỡng da) qua hai cơ
chế phản ứng như sau:
Bức xạ UV được các
chromophore (một
nhóm phân tử có khả
năng hấp thu ánh
sáng một cách chọn
lọc) trong tế bào
hấp thu trực tiếp
gây ra những phản
ứng sinh hóa tác hại.
UV cũng gây ra tình
trạng mẫn cảm với
ánh sáng, UV bị hấp
thu bởi những phần
tử gây mẫn cảm
(sensitizers), những
phần tử này khi bị
kích ứng sẽ trở
thành bị khởi động
điện tử đưa đến
những phản ứng hóa
học tạo ra những ROS
(reactive oxygen
species). ROS gây
những tác hại do
oxyd-hóa cho DNA,
protein, acid béo và
saccharides của cơ
thể đưa đến những
rối loạn trong sự
biến dưỡng của tế
bào, những thay đổi
về cấu trúc tế bào.
ROS cũng ngăn trở
các tiến trình sinh
học, làm thay đổi
các sự phân cắt,
sinh sản và cả tiến
trình apoptosis (tế
bào mã hóa để tự
diệt) của tế bào da.
Các tác hại này gây
ra đầu tiên là sự
phỏng da do nắng: da
trở nên đỏ, đau và
rát khi bị chạm phải.
Sự phỏng nắng thường
xẩy ra sau khi phơi
nắng vài giờ và vết
phỏng cần một thời
gian, có khi từ vài
ngày đến vài tuần để
trở lại bình thường.
Chịu bức xạ UV quá
mức còn gây cho da
lão hóa nhanh hơn,
gây hư hại các
elastin= mô sợi đàn
hồi của da (solar
elastosis), gây
những vết lở tiền
ung thư dưới da
(actinic keratosis)
và ung thư da loại
carcinoma.


Actinic
keratosis
Carcinoma
Lão
hóa của da do bức xạ:
Lão hóa do bức xạ (photoaging)
còn được gọi dưới
tên 'khoa học' hơn dermatoheliosis là
một nhóm các tác hại
gây ra do tia UV,
tạo sự thay đổi hư
hại cho lớp tế bào
da ngoài cùng của
biểu bì (epidermis).
Điều nguy hiểm là
những thay đổi này
không xuất hiện ngay,
nhưng tiềm ẩn và kéo
dài có khi hàng chục
năm khi tiếp tục
chịu tác động của
tia nắng, khiến
người liên hệ không
ngờ và cứ nghĩ là
mình vẫn an toàn.
Mức độ lão hóa da
thay đổi tùy theo
màu da: người da
trắng dễ bị ảnh
hưởng hơn người da
màu..
Những thay đổi
của lớp
epidermis do lão
hóa bởi tia nắng
có thể gồm: da
có vết nhăn, trở
thành nhám, nhão,
khô, có vết như
bị bầm, có vết
của những tĩnh
mạch (telangiectasias).
Tại một số vùng
nơi da có nhiều
sắc tố, xuất
hiện những đốm
hay vệt xậm màu
thường gọi là
vết nám, vết đồi
mồi (age spots,
liver spots) hay
chuyên môn hơn solar
lentigines.


Tại
những vùng da chịu
tác dụng của tia
nắng cũng có thể có
những đám da bị mất
sắc tố, trông như
những vết trắng nhỏ
giống những vết sẹo
đã lành.
Nhiều người 'không
chịu' chấp nhận là
những biểu hiện lão
hóa của da là kết
quả của những thời
gian phơi nắng không
cần thiết khi còn
trẻ. Các bác sĩ
thường chứng minh
bằng cách so sánh
trạng thái của da
nơi cánh tay và mặt
với da của vùng mông,
vì trên nguyên tắc
tất cả mọi vùng da
của cơ thể đều bị
lão hóa dần dần như
nhau.. và sự thay
đổi của da nơi vùng
chịu tác dộng của
ánh nắng khác hẳn
với những vùng được
quần áo che kín..
Tác hại của tia nắng
trên các elastin (xem
bài Kem xóa vết nhăn)
hay solar elastosis
cũng là một dạng
thức của tác hại tia
nắng trên da. Danh
từ này thường được
dùng để gọi những
tác hại vào lớp mô
dermis nằm dưới lớp
epidermis. Lớp
dermis có những sợi
collagen (tạo sức
chịu đựng) và
elastin (tạo sự đàn
hồi cho da) Phơi
nắng quá độ làm cho
các sợi đàn hồi biến
đổi thành một khối
sợi đông đặc, rối
lại, mất khả năng
thun-giãn và làm da
dầy đi một cách bất
thường. Các sợi
collagen bị suy
thoái làm da mất sức
chịu đựng. Những
thay đổi rõ rệt nhất
là có sự xuất hiện
của những vết nhăn
sâu, những nếp xếp
nơi da mặt và những
vùng bị nắng chiếu;
vùng da nơi trán và
sau gáy ngả sang
vàng nhạt. Những
vùng thiếu sự chống
đỡ của xương như hai
bên má, sống mũi..
bị xệ xuống, môi
dưới xệ, mí mắt sụp,
tai cũng dài ra..

Type de peau
et l'index
UV |
Fondation
contre le
Cancer
Kem chống nắng:
Có hai loại chính,
đặt tên theo cách
hoạt động là:
sunscreen và
sunblock.
Sunscreen: là
những sản phẩm
có khả năng 'lọc'
(filter) hay 'hấp
thu' (absorb)
tia cực tím
(UV). Sunscreen
còn được gọi
thêm là
'chemical
sunscreen'.
 
Sunblock: có
khả năng 'phản
chiếu' (reflect)
tia UV, còn gọi
là 'physical
sunsdreen)

Cả
hai loại đều được
xem là có công hiệu
phòng ngừa tác hại
của tia nắng, ngừa
phỏng nắng và ngừa
nắng làm nhăn da.
Thành phần hóa
chất trong Kem chống
nắng:
Kem chống nắng có
thể chứa những hoạt
chất (đơn độc hay
phối hợp) thuộc các
loại:
Hợp chất hữu cơ
(organic) hấp thu
tia UV.
Phân tử hóa chất vô
cơ dạng hạt nhỏ,
phản chiếu, phân tán
hay hấp thu tia UV
như titanium oxide,
kẽm dioxide..
Hợp chất hữu cơ dạng
hạt, cũng hấp thu
tia UV, nhưng chứa
nhiều chromophore để
có thể phản chiếu,
phân tán tia UV như
nhóm vô cơ, như
trường hợp của
Tinosorb M (Sự phản
chiếu và phân tán
tia UV tùy thuộc vào
kích thước của hạt,
nên các hoạt chất
phải ở dạng li ti,
thật nhỏ chỉ cỡ 200
nm.
Cấu trúc hóa học của
các phân tử hóa chất
trong kem chống nắng
giúp hấp thu các tia
UV có năng lượng cao,
đồng thời phóng
thích năng lượng như
những tia nắng lượng
thấp, do đó giúp bảo
vệ da khỏi bị tổn
thương: Khi da chịu
ảnh hưởng của tia
UV, đa số các hóa
chất trong kem (ngoại
trừ avobenzone)
không bị biến đổi
nên vẫn giữ được khả
năng hấp thu UV.
Trong công thức của
một số kem (loại
dùng hoạt chất
avobenzone) còn có
thêm những chất làm
ổn định
(stabilizers) để
giúp avobenzone
không bị phân hủy
như Helioplex,
Avotriplex..
Tại Hoa Kỳ, FDA cho
phép bán các thành
phẩm dùng chống nắng
được chứa các hóa
chất theo các tỷ lệ
sau:
Para Amino Benzoic
Acid=PABA: 15 % (cũng
dùng tại Úc, nhưng
bị cấm tại Âu châu
từ 10/2009).Tuy có
khả năng bảo vệ
chuột không bị ung
thư da nhưng gây
những biến đổi về cơ
cấu DNA. Hấp thu UVB.
Avobenzone=Parsol
1789: 3 % còn có các
tên Butylmetho
xydibenzoyl methane,
Eusolex 9020. Âu
châu và Úc cho dùng
5%, Nhật dùng 10 %.
Hấp thu UVA.
Cinoxate: 3 % hay
2-Ethoxyethyl p-methoxycinnamate.
Úc cho dùng đến 6 %.
Hấp thu UVB.
Dioxybenzone: 3 % (Benzophenone
8) .Hấp thu UVA và
UVB.
Homosalate: 15 % (Homomethyl
salicylate=HMS). Úc
dùng 15 %, Nhật và
Âu châu 10 %. Hấp
thu UVB.
Menthyl anthranilate:
5 % (Meradimate),
chỉ dùng tại Úc và
Hoa Kỳ. Hấp thu UVA
Octocrylene: 10 % (Eusolex
OCR), có thể gây
tăng ROS. Hấp thu
UVB.
Octyl
methoxycinnamate:
7.5 % (Octinoxate,
EMC, Parsol MCX), Úc
và Âu châu dùng 10
%, Nhật dùng đến 20
%. Hấp thu UVB.
Octyl salicylate: 5
% (Octisalate,
Escalol 587). Úc, Âu
châu và Mỹ dùng 5 %,
Nhật dùng 10 %. Hấp
thu UVB.
Oxybenzone: 6 %
(Benzophenone-3,
Eusolex 4360,
Escalol 567). Úc và
Âu châu dùng 10 %,
Nhật chỉ dùng 5 %.
Hấp thu UVA và UVB.
Padimate O: 8 % (OD-PABA,
sigma-PABA), hiện
không còn dùng tại
Âu châu. Nhật dùng
10%. Hấp thu UBV.
Phenylbenzimidazole
sulfonic acid: 4 % (Ensulizone,
Euso lex 232, Parsol
HS ). Úc dùng 4 %,
Âu châu 8 %, Nhật
chỉ dùng 3 %. Hấp
thu UBV.
Sulisobenzone: 10 %
(Benzophenone-4,
Escalol 577). Mỹ,
Nhật và Úc đều dùng
10 %, Âu châu chỉ
dùng 5 %. Hấp thu
UBV và UBA.
Titanium dioxide: 25
% (C177891). Tại
Nhật, tỷ lệ sử dụng
không bị kiểm soát.
Trolamine salicylate:
12 % (Triethanolamine
salicylate), chỉ
dùng tại Mỹ và Úc.
Hấp thu UVB.
Zinc oxide: 25 %. Úc
cho dùng 20%,Âu châu
dùng 25 % dưới dạng
hạt > 100 nm, Nhật
không giới hạn.
Riêng Ecamsule
(Meroxyl
SX,Terephthalydene,
Dicamphor Sulfonic
Acid), tuy được dùng
tại Úc và Âu châu
với tỷ lệ 10 %,
nhưng tại Hoa Kỳ,
FDA chỉ cho phép
dùng tối đa 3 %
trong những thành
phẩm cần xin phép
riêng (New Drug
Application).
Tại Âu châu và
tại Nhật kem
chống nắng có
thể có những hóa
chất không nằm
trong danh sách
này như Tinosorb
N, Tinosorb S
Mexoryl, Uvasorb
HEB, Parsol HLB.
Kem
chứa titanium
dioxide và zinc
dioxide thường để
lại trên da những
vệt bợn trắng.
Các công thức hỗn
hợp cũng được tạo ra,
pha trộn 2, 3 chất
kể trên để khả năng
chống nắng được bao
quát hơn: có thể gồm
avobenzone (có hoạt
tinh chống UVA) pha
trộn với oxid kẽm
hay avobenzone pha
trộn với ensulizone..
Những danh từ
chuyên môn:
FDA và các nhà sản
xuất kem chống nắng
dùng một số danh từ
chuyên môn để thử
nghiệm và tiêu chuẩn
hóa kem.
Minimum Erythema
Dose (MED)
Khi chúng ta ra nắng,
sau một thời gian,
da đỏ lên: khoảng
thời gian này được
gọi là MED. Mỗi
người có một MED
khác nhau, tùy thuộc
vào nhiều yếu tố như
chủng tộc.. Người da
trắng (tóc vàng, mắt
xanh) gốc Ái nhĩ lan
(Irish) thường có
MED nhỏ nhất: chỉ
khoảng 10 phút. (trên
nguyên tắc, người
này nếu dùng kem
chống nắng có
SPF=20, sẽ phải phơi
nắng 200 phút mới bị
đỏ da.. nhưng trên
thực tế không hẳn
như vậy?).
Sun Protection
Factor (SPF):
Đây là một con
số để chỉ mức
hiệu nghiệm của
thuốc thoa chống
nắng. Con số này
là tỷ lệ MED của
da được thoa
thuốc/ MED của
da để trần,
không thoa thuốc.
Để
thử nghiệm kem chống
nắng: các phòng thí
nghiệm dùng da lưng
của những người tình
nguyện (thường là
nam giới). Một phần
da để trần (dùng làm
đối chứng, kiểm soát=control)
và một phần da được
thoa thuốc. Lượng
thuốc sử dụng: 2 mg/
centimét vuông. Sau
đó dùng solar
simulator, một dụng
cụ tại tia UV rọi
trên lưng người chịu
thử nghiệm đến khi
da ửng đỏ (giống như
khi phơi nắng).
Theo lý thuyết, SPF
càng lớn thì sự hiệu
nghiệm sẽ càng tăng
cao. Nhưng trên thực
tế, tỷ lệ này không
phải là một tỷ lệ
thuận hoàn toàn vì
khi SPF đạt đến mức
30, tỷ lệ hiệu
nghiệm không còn là
một đường thẳng
(linear function)
nữa.
SPF 15 ngăn chặn
được khoảng 93.3 %
UV.
SFP 30 ngăn chặn
được 97 %
Và sau đó, mức hiệu
nghiệm hầu như không
tăng thêm nữa..
Tại Âu châu, mức SPF
cao nhất được phép
ghi trên thành phẩm
là 50. Tại Úc là 30.
Tại Hoa Kỳ, dự thảo
của FDA đưa ra trong
các năm 2007 và 2011
cũng cho phép ghi
tối đa là 50.
Ngoài ra còn có khá
nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến việc thử
nghiệm để định con
số SPF, đồng thời
cách sử dụng kem
chống nằng cũng làm
thay đổi khả năng
bảo vệ thật sự của
kem:
Nhìn sự thay đổi của
da (độ ửng đỏ) tùy
thuộc vào khả năng
của người quan sát (nghĩa
là rất chủ quan),
chịu những biến đổi
theo nhân sinh quan
(human variations).
Lượng thuốc dùng
trong thử nghiệm khá
cao, tính ra lên đến
35 ml mỗi lần thoa
trên 1 phân vuông,
trên thực tế, người
tắm nắng chỉ thoa
khoảng 5 ml..
Tác dụng chống nắng
tùy thuộc loại (màu)
da: Bảng phân loại
Fitzpatrick xếp da
người Á đông vào
nhóm 'da trung bình'
'không dễ phỏng'
(Class III, IV) nên
lượng thuốc cần dùng
sẽ ít hơn người Âu,
da trắng. Hệ thống
Fitzpatrick không
thật sự chính xác,
kết quả dựa vào
những câu trả lời
phỏng vấn của những
người phơi nắng tại
Boston.
Persistent pigment
darkening (PPD).
PPD là một phương
pháp để đo khả năng
chống UVA, tương tự
như phương pháp SPF
để đo khả năng chống
UVB. Phương pháp này
được dùng tại Nhật
và Công ty l'Oreal
áp dụng cho các sản
phẩm của công ty.
Thay vì dùng tiêu
chuẩn gây mẩn hay đỏ
da khi bị chiếu nắng
như trong SPF, PPD
dùng UVA chiếu đến
khi da xậm màu hơn :
trên lý thuyết PPD=10
sẽ biểu tượng là sản
phẩm cho phép người
thoa chịu được tác
dụng của UVA trong
thời gian kéo dài
gấp 10 lần người
không thoa...
Màu da và MED:
American Academy of
Dermatology (AAD) đã
phân loại màu da,
đặc điểm chủng tộc
và thời gian (phút)
chịu MED như sau:
Loại da
Đặc điểm
Chủng tộc
Phút/MS
1/
Da trắng, nhạt, dễ
bị
Celtic
20
2/
phỏng nắng
mắt xanh, tóc vàng
Da nhạt ,
dễ phỏng
Nordic
25-30
3/ Da trắng,
bắt nắng
Dân da trắng
35-40
4/ Da vàng,
ít bắt nắng
Địa trung hải
40-50
mắt đen,
tóc đen
Tàu/Nhật/VN
Thổ dân Hoa Kỳ
5/ Da nâu,
ít bắt nắng
Ả rập, Mã lai,Mễ
50-60
6/ Da
đen, không bắt nắng
Đen
(negro)
60-75
AAD ghi chú thêm:
MED được tính theo
thời gian tối thiểu
để da bị ửng đỏ
trong vòng 24 giờ,
sau khi chịu tác
động của ánh nắng
giữa trưa, thời gian
giữa mùa hè ở vùng
có vĩ tuyến 40-45 độ
như Bắc California,
Kansas City.
Không nên phơi
nắng 'giữa trưa
hè' dù là loại
da nào và bất kể
chủng tộc nào.
Dự
trù của FDA về nhãn
trên chai kem chống
nắng: Từ tháng 8 năm
2007, FDA đã đưa ra
một số đề nghị thay
đổi một số điểm trên
các nhãn của kem
chống nắng với mục
đích giúp người tiêu
thụ dễ sử dụng hơn.
FDA cũng dự trù sẽ
áp dụng những điều
lệ này vào cuối năm
2012.
Ghi thêm khả năng
chống UVA:
Ký hiệu SPF chỉ giới
hạn trong việc cho
biết khả năng chống
UBV của kem, nhưng
trong tia nắng còn
có UVA cũng gây tác
hại cho da tuy không
gây đỏ da nhưng gây
thương tổn cho DNA
trong tế bào lớp
dermis có thể đưa
đến ung thư.
FDA bắt buộc các nhà
sản xuất kem chống
nắng phải làm thêm 2
thử nghiệm mới để
xác định khả năng
chống UVA của sản
phẩm (trước khi đưa
ra thị trường):
Thử nghiệm trong
phòng thí nghiệm (in
vitro) dùng dĩa
thạch anh (quartz
plate), để đo khả
năng làm giảm bớt
lượng tia UVA sau
khi đi qua kem.
Thử nghiệm lâm sàng
(clinical), tương tự
như khi thử UVB, đo
khả năng làm giảm
bớt tác động của UVA
trong việc gây da
trở thành xậm.
Kết quả của 2 thử
nghiệm trên sẽ được
phối hợp chung thành:
mức độ bảo vệ chống
UVA của sản phẩm,
xếp hạng từ 'thấp
đến cao nhất'.
Phương thức ghi kết
quả UVA được FDA đề
nghị là dùng một hệ
thống biểu tượng
bằng các ngôi sao,
thay vì con số như
UVB. Theo FDA thì
phương thức này sẽ
giúp người tiêu thụ
dễ phân biệt giữa
tác dụng chống UVB
và UVA. Khả năng
chống UVA sẽ được
đánh giá bằng hệ
thống gồm 4 ngôi sao,
đi từ thấp nhất là
một sao đến cao nhất
là 4 sao, đồng thời
nếu sản phẩm không 'chống
UVA' cũng phải ghi
rõ điều này trên
nhãn.
Nhãn sẻ cần có 2
phần:
Tên sản phẩm (Brand
X)
Kem chống nắng
(Sunscreen)
UVB
UVA
SPF
* * * *
45 (ngôi
sao được in đậm)
Cao
Cao
Trong ví dụ trên:
UVB với SPF=45 được
xếp hạng cao.
UVA với 3 sao đậm
được xếp hạng cao.
Sản phẩm 1 sao chỉ
bảo vệ chống UVA yếu,
thấp (low), 2 sao
chỉ tác dụng trung
bình (medium), 3 sao=cao
(high) và 4 sao=cao
nhất (highest).
Các sản phẩm không
chống UVA phãi ghi
rõ:'No UVA
protection' Tuy
nhiên tháng 8/2007,
FDA đã hoãn việc ghi
giá trị sản phẩm
bằng hệ thống 'sao'
..do có thể gây..khó
khăn hơn cho người
tiêu thụ?)
Tại Âu châu, sản
phẩm chống nắng cần
có khả năng bảo vệ
da chống UVA, PF cần
bằng 1/3 của SPF để
được 'in thêm' dấu
UVA trên sản phẩm.
Hệ thống đánh giá
kem chống nắng hay
tỷ lệ UVA/UBV bằng
số lượng các ngôi
sao đã được dùng tại
Anh và Ái nhĩ Lan (còn
gọi là hệ thống
Boosts).
Tại Á châu, nhất là
Nhật, khả năng chống
UVA được ghi nhận
bằng PA (Protection
Grade of UVA) dựa
theo thử nghiệm PPD.
Theo Japan Cosmetic
Industry Association
thì
PA + có khả năng
chống UVA, PF=2-4
PA ++, PF=4-8
PA +++. PF > 8
Định nghĩa lại
SPF:
FDA định nghĩa
lại SPF từ Sun
Protector Factor
thành Sunburn
Protection
Factor, đồng
thời buộc phải
ghi những chữ
UBV ngay trước
con số SPF để
người tiêu thụ
biết là SPF chỉ
là giá trị chống
UBV. Trước 1999,
FDA chỉ cho phép
ghi SPF đến tối
đa là + 30,
nhưng hiện nay
mức SPF được
chấp nhận là
+50. Đồng thời
sản phẩm có SPF
từ 2 đến < 5
được ghi là 'thấp'
(low), từ 15 đến
< 30 là 'trung
bình' (medium),
từ 30 đến 50 là
'cao' high' và
+50 là 'cao nhất'
(highest).
Khả năng 'chống
bị nước ngấm,
làm trôi'
(waterproof,
water resistant.
Một
vấn đề khác được đặt
ra với những người
thích tắm biển và
phơi nắng là thoa
kem rồi xuống nước,
và khi da đổ mồ hôi
thì kem có bị trôi
đi hay còn ở lại
trên da không? Trước
đây một số sản phẩm
đã ghi trên nhãn
những chữ như
Waterproof, Water
Resistant, Sweat
Reristant.. FDA chỉ
cho phép ghi các chữ
này với điều kiện: 'Sản
phẩm phải giữ được
khả năng ( số SPF và
UVA) sau khi ngâm
trong nước 40 phút;
và có thể ghi 'very
water
resistant/sweat
resistant' nếu giữ
nguyên được trị số
SPF/UVA sau khi ngâm
nước 80 phút.
Broad Spectrum
sunscreen:
Kem có thể được ghi
là có'phổ rộng' nếu
chống được cả UVB
lẫn UVA.
Những khuyến cáo
của FDA:
FDA và AAD đưa ra
những khuyến cáo về
Kem chống nắng sau:
Khi sinh hoạt
ngoài trời, nên
tránh khoảng
thời gian từ 10
giờ sáng đến 3
giờ chiều, là
thời điểm tia
nắng tác động
trực tiếp và mức
độ gây tai hại
cao nhất.
Mặc quần áo che phần
da (quần dài, áo tay
dài) đội mũ có vành.
Đeo kính mát, có khả
năng chống UV (nếu
sinh hoạt trên tàu
thuyền, đi bộ nên
dùng loại kính có
thể lọc 95 % UVB và
60 % UVA.
Khi ra bãi biển, cần
che dù để giảm bị
các tia nắng chiếu
trực tiếp.
Vẫn có thể bị phỏng
nắng dù trời có mây
(từ 70-90 %), tia UV
đi qua mây.
Mặt nước, cát và
tuyết đều phản chiếu
UV.
Thoa kem chống nắng
thành lớp dày, thoa
15 đến 30 phút trước
khi ra nắng, sau đó
nên thoa lại mổi 2
giờ.
(Các
nghiên cứu cẩn
trọng hơn cho
rằng: an toàn
nhất là dùng số
SPF chia đôi để
định thời gia
cần thoa lại kem:
Ví dụ kem có
SPF=40, nên thoa
lại kem sau mỗi
20 phút phơi
nắng).
Lượng kem cần thoa,
theo tiêu chuẩn của
AAD là khoảng 30 ml/
lần (người lớn)
trong đó 2.5- 5ml
thoa mặt và cổ;
5-7.5 ml thoa cánh
tay và vai; 5-7.5 ml
cho phần thân trên;
10-2.5 ml cho đùi và
chân.
Trần Minh Quân
|
|
|