|
MỸ
PHẨM và DA
Kem xóa vết nám
Kem tẩy da, làm trắng da
Phụ nữ
thường rất sợ tàn nhang,
vết nám trên da mặt, dù
những vết nám này không
thực sự ảnh hưởng đến
sức khỏe nhưng lại ảnh
hưỡng nhiều đến vấn đề
thẩm mỹ, gây tình trạng
âu lo, mãc cảm 'kém đẹp'
cho nhan sắc. Khoa thẩm
mỹ có nhiều phương pháp
để xóa các vết nám:
những vết nám 'sâu' phát
xuất từ lớp dermis cần
đến những phương thức do
các bác sĩ hay các
chuyên viên thẩm mỹ thực
hiện như 'lột da'
(peeling) nhiều lần dùng
laser (laser
resurfacing) hay chà da
(dermabrasion), giải
phẫu bằng đông lạnh (dryosurgery),
bằng dùng hệ thống chiếu
sáng Intense Pulse
Light... nhưng với những
vết nám 'cạn' thi đơn
giản và dễ nhất vẫn là
dùng các loại kem thoa..
Quan
niệm thẩm mỹ về màu
của da thay đổi tùy
theo từng dân tộc.
Da trắng hồng 'được
xem là đẹp và hấp
dẫn' hơn màu da xậm
(phụ nữ Đông phương
thường muốn có một
màu da nhạt..'trắng,
và mịn như..trứng gà
bóc'). Các nhà sản
xuất mỹ phẩm quốc tế
(và địa phương) đã
đưa ra thị thường
hàng ngàn sản phẩm,
quảng cáo tân kỳ để
hấp dẫn khách hàng.
Con số thương vụ
riêng cho loại kem
làm nhạt vết nám và
làm trắng da lên đến
hàng tỷ USD. Những
loại kem này có
nhiều tên khác nhau
như Skin lightening
cream, Whitening
cream, Bleaching
cream.

Thị trường
Kem làm nhạt màu da rất
phát triển tại Nhật và
đặc biệt hơn là tại Ấn
độ, Pakistan: Sản phẫm
Fair and Lovely của Công
ty Unilever vẫn là một
loại kem được ưa chuộng
nhất dù đã bị Chinh phủ
Ấn cấm quảng cáo trên
các hệ thống truyền hình
từ năm 2007...
Màu sắc
của da:
Màu sắc
của da được định bởi sự
'tương tác' giữa nhiều
sắc tố trong cơ thể.
Hemoglobin trong máu tạo
'nền' đỏ và xanh lam
nhạt; carotenoids tạo
các ánh vàng; eumelanin
và pheomelanin tạo ra
những màu nâu-đen..
Trong việc tạo màu cho
da, melanin đóng vai trò
quan trọng nhất.
Melanin (từ tiếng Hy
lạp melas= đen) là
một sắc tố thường
gặp nơi sinh vật (nhện,
là một trong những
loài rất hiếm, không
có melanin). Nơi
giới động vật,
melanin là chất
chuyển hóa từ acid
amin tyrosine. Dạng
melanin thường gặp
là eumelanin, một
polymer có màu
nâu-đen của acid
dihydro-indole
carboxylic.
Eumelanin còn được
chia thành 2 nhóm
phụ: nhóm eumelanin
đen, và nhóm
eumelanin nâu. Hai
nhóm này thường gặp
nơi những người
không phải là Âu
châu. Sự pha trộn
thiếu cân bằng của
eumelanin đen tạo ra
..tóc bạc, và của
eumelain nâu tạo ra
tóc mầu nâu.. Dạng
thứ nhì là
pheomelanin một
polymer màu nâu-đỏ
có chứa cystein của
các đơn vị
benzothiazine, dạng
này tạo màu đỏ cho
tóc và cho màu của
các đốm đỏ trên da
(freckles) .Pheomelanin
thường gặp nơi da và
tóc người Da trắng
và thường tập trung
nơi môi, đầu vú và
bộ phận sinh dục (nam
và nữ). Pheomelanin
có thể trở thành một
tác nhân gây ung thư
khi chịu tác động
của tia UV.
Melanin
được sản xuất do các tế
bào melanocytes nằm
trong lớp dermis của da
(xem bài Kem dưỡng da).
Melanin có trách nhiệm
tạo màu do da, tóc và
đáy mắt : những màu tại
các nơi này tùy thuộc
vào các yếu tố di truyền
quyết định việc phân
phối các sắc tố. Melanin
có nhiệm vụ như một chất
chống nắng tự nhiên khi
bị kích động bởi tia
nắng mặt trời, Melanin
biến đổi tia UV thành
một dạng năng lượng mà
cơ thễ có thể sử dụng,
đồng thời chuyển đổi và
khử các nhóm gốc tự do
gây tác hại cho cơ thể.
Khi sự sản xuât melanin
bị rối loạn (quá nhiều
hay không đều), trên da
có thể xuất hiện những
đốm hay vệt (gọi chung
là lentigines).
Sinh
tổng hợp:
Giai đoạn
đầu tiên của tiến trình
sinh tổng hợp melanin
cần có sự xúc tác của
men tyrosinase:Tyrosine
được chuyển thành DOPA
và sau đó thành
dopaquinone.
Dopaquinone sau đó có
thể kết hợp với cysteine
để tạo ra pheomelanin.
Dopaquinone cũng có thể
chuyển biến thành
leucodopa chrome và tiếp
tục chuyển đỗi thành
eumelanin.
Vết nám trên da:
Có nhiều
loại vết
nám trên da. Danh từ
chung được dùng là
hyperpigmentation.
Tất cả các vết nám
đều do melanocytes
bị kích thích để
tiết ra melanin.
Hyperpigmentation có thể
lan rộng hay tập trung
một chỗ. Các chuyên viên
thẩm mỹ và các bác sĩ
chuyên về da thường phân
loại thành:
Những vết
nám do những rối loạn về
kích thích tố xẩy ra
trong thời kỳ tiền mãn
kinh, mãn kinh, do thai
nghén, do các điều trị
dùng estrogen hoặc do
dùng thuốc ngừa thai
trong một thời gian dài.
Các vết nám này được gọi
là 'hormone hay
pregnancy masking'. Một
danh từ lạ được dùng tại
Việt Nam là Nám có chân?

Những vết
nám gây ra bởi tia cực
tím (UV) trong ánh nắng
mặt trời, hoặc gây ra
bởi những yếu tố môi
trường như tiếp xúc
thường xuyên với hóa
chất có hại cho da, dùng
quá nhiều mỹ phẩm kém
phẩm chất..
Vài danh
từ thường gặp:
- Liver
spots, còn gọi là
Solar lentigo,
Lentigo senilis, Old
age spots. Tuy gọi
là liver spots nhưng
những vết nám này
không liên hệ gì đến
gan, tên đúng hơn là
solar spots hay age
spots vì đây là do
tác động của tia mặt
trời trên da. Với
người da trắng, loại
vết nám này xuất
hiện như những vệt
nâu, đỏ nhạt hoặc
những đốm tàn nhang
trên da mỗi ngày một
nhiều và xậm hơn, có
thể lớn cỡ 1 cm ;
với người da màu (
như Á đông), những
vệt nám có dạng các
vệt xỉn hơn, xám tro
hơn (ashen-grey).
Những vết nám loại
này thường tập trung
tại các vùng da bị
chiếu bởi ánh nắng
như mặt, trán, cánh
tay và trên đỉnh đầu
(người bị hói)..
Liver spots, trong
đa số trường hợp,
không phải là vấn đề
nguy hại cho sức
khỏe, chỉ gây những
khó chịu về phương
diện thẩm mỹ, nhất
là khi xuất hiện
trên mặt.

Liver
spots - Solar
lentigo
-
Melasma: Theo
định nghĩa của
American Academy of
Dermatology, cũng là
một 'vấn đề' thường
xẩy ra cho da.
Melasma tạo ra những
vệt, khoang màu
xám-nâu trên mặt.
Phần lớn các vết nám
xẩy ra hai bên má,
nơi cầu mũi, trán và
môi trên. Phụ nữ dễ
bị melasma hơn nam
giới và thường xẩy
ra nơi phụ nữ có
thai. Melasma được
xem là gây ra bởi
những rối loạn về
kích thích tố. Để
chẩn đoán melasma,
các bác sĩ chuyên về
da sẽ đo độ sâu và
quan sát vết nám qua
một dụng cụ quang
học gọi là đèn Wood,
và sau đó có thể làm
sinh thiết (biopsy)
để phân biệt vết nám.
Trên nguyên tắc
melasma có thể tự
nhạt màu và biến mất
(như trường hợp vết
nám do dùng thuốc
ngừa thai, những vết
này sẽ nhạt từ từ
sau khi ngưng thuốc),
nhưng melasma cũng
có thể tồn tại luôn
trên da.. Chloasma,
danh từ chuyên dùng
hơn cho các vết nám
trong giai đoạn thai
kỳ, những vết
này có thể xuất hiện
trên da bụng (dù
không bị chiếu bởi
tia nắng).

Kem xóa
vết nám.
Ngoài những
kem xóa vết nám được xếp
vào loại dược phẩm (tại
Hoa Kỳ) với công thức và
tỷ lệ hoạt chất được ghi
rõ rệt. Những kem thuộc
loại 'mỹ phẩm', do không
bị kiểm soát, nên có thể
chứa nhiều hợp chất khác
nhau và những 'mỹ phẩm'
tại các quốc gia thuộc 'thế
giới thứ ba' còn có thể
có thêm những hoạt chất
nguy hại để tẩy da đã bị
cấm như thủy ngân, hay
dùng những nồng độ rất
cao của hydroquinone.
Thành
phần hoạt chất:
1 - Hydroquinone:
Trong Y học
Hydroquinone là một hoạt
chất đã được chứng minh
là có khả năng làm giảm
sự sản xuất melanin bằng
cách ức chế hoạt động
của men tyrosinase. Tuy
được xếp vào loại 'tẩy
da' (skin bleaching),
nhưng thật sự chỉ làm da
nhạt màu do ngăn chặn
melanin (chất làm da xậm).
Về phương
diện hóa học,
hydroquinone = 1,4 -benzenediol,
còn gọi là p-dihydroxybenzone,
được xếp vào nhóm
monobenzone.
(Hydroquinone có thể
được ghi trên các nhãn
dưới nhiều tên khác nữa
như Quinol, Benzene-1,
4-diol, p-Diphenol,
Hydrochinone,
Hydrochinonium, Tequinol..)
Hydroquinone là tác nhân
thông dụng nhất được
dùng trong các kem thoa
làm bớt màu xậm của da,
đồng thời cũng được xem
là tiêu chuẩn cho các
chất làm trắng da. Có
nhiều thử nghiệm đã
chứng minh sự hữu hiệu
của hydroquinone, khi
dùng riêng rẽ và cả khi
dùng phối hợp với các
hoạt chất khác, hoặc với
các kỹ thuật làm nhạt
màu da khác.
Hydroquinone tác động
bằng ức chế men
tyrokinase, do đó ngăn
chặn sự tổng hợp sắc tố
melanin. Hydroquinone
không phải là một chất
tẩy da, vì không tác
động trực tiếp trên
melanin. Hydroquinone
không tác động ngay,
nhưng đòi hỏi một thời
gian nhiều tuần lễ đễ
chờ cho các melanin đang
có mất đi dần và không
được thay thế bằng
melanin mới (do bị
hydroquinone ngăn chặn
sự sản xuất). Để giúp
gia tăng tiến trình loại
melanin, một số thành
phẩm đã phối hợp thêm
các chất giúp lột da (exfoliants)
như alpha-hydroxy-acid (xem
bài kem dưỡng da). Tuy
nhiên vì hydroquinone và
AHA đều là những chât có
thể gây ngứa và mẫn cảm
cho da, nên sự phối hợp
có thể gây thêm các phản
ứng bất lợi.
Một số
thử nghiệm trên thú
vật cho thấy
hydroquinone khi
dùng ở liều cao có
thể gây ung thư (loại
leukemia nơi chuột),
đồng thời có thể gây
chứng ochronosis làm
da biến màu, trở
thành màu đen-lam
nhạt (blueish) (một
biến chứng khác
thường xẩy ra hơn là
vùng da bị 'tẩy' bởi
hydroquinone trở nên
nhạt hơn vùng da
chung quanh). Hội
chứng Ochronosis
tương đối hiếm và
xẩy ra khi dùng liều
quá cao
hydroquinone, tuy
nhiên lại dễ xẩy ra
cho người da màu:
một nghiên cứu tại
Nam Phi ghi nhận 69
% những người dùng
hydroquinone ở nồng
độ 6-8 % bị
ochronosis. Do các
phản ứng phụ bất lợi
trên, hydroquinone
đã bị cấm tại một số
quốc gia tại Âu châu
như Pháp. Cộng đồng
chung Âu châu cấm
dùng hydroquinone từ
2001.

Hydroquinone
có thể dùng riêng rẽ
(2-4 %) hoặc dùng phối
hợp với azelaic acid
(0.05-0.1 %) Kem thoa
dưới dạng mỹ phẩm chỉ
chứa 2 % hydroquinone.
Kem chứa 4 %, tại Hoa Kỳ,
được xếp vào thuốc trị
bệnh, cần có toa bác sĩ..
Riêng tại Canada, Nhật
kem chứa từ 2 đến 4 %
hydroquinone đều được
bán tự do.
Trên thị
trường dược phẩm Hoa Kỳ
có các đặc chế loại
generic như Hydroquinone
4 % (Perrigo), và loại
tên hiệu (brand name)
như Eldoquine forte,
Melquin, Lustra..
Lustra
AF chứa ngoài
hydroquinone 4 %,
còn có avobenzone
một hóa chất chống
nắng (xem bài Kem
chống nắng). Lustra
và Lustra AF đều có
thêm các chất tạo độ
ẩm cho da như
glycerine, glycolic
acid (Lustra được
bán theo toa tại Hoa
Kỳ).

Tại Canada:
Lustra được bán tự do và
còn có những sản phẩm
khác chứa 4 %
hydroquinone cũng bán tự
do như Neostrata HQ 4 %,
Neostrata HQ 4 % plus
SPF, Glyquin XM
Ultraquin 4 %..
Một đặc chế
được các bác sĩ ghi toa
tại Hoa Kỳ là Tri-Luma,
Công thức; 1 gram kem
chứa các hoạt chất gồm
40 mg hydroquinone 4 %,
0.1 mg fluocinolone
acetonide 0.01 % và 0.5
mg tretinoin 0.05 %.
Tri-Luma là thuốc chính
thức được FDA chấp thuận
để trị các vết nám, hiệu
nghiệm đã được chứng
minh bằng các thử nghiệm
lâm sàng. Tuy nhiên hiện
nay Tri-Luma 'tạm vắng
mặt trên thị trường' với
lý do rắc rối về bào chế.
Tri-Luma đã được Công ty
Galderma thu hồi từ
tháng 8 năm 2010. Tri-Luma
được sản xuất tại Viện
Bào chế Hill
Dermaceuticals (Florida)
FDA đã tìm ra một trong
những hoạt chất do Hill
sử dụng trong quá trình
bào chế không đạt tiêu
chuẩn về nồng độ và hoạt
tính Hill Dermaceuticals
bị tạm đóng cửa để chờ
giải quyết những vấn đề
kỹ thuật FDA đòi hỏi.
Thông báo mới nhất của
Công Ty Galderma (tháng
2/2013) cho biết Tri-luma
vừa được cho phép tái
sản xuất..
2 - Arbutin:
Về phương
diện hóa học, Arbutin có
thể được xem vừa là một
ether vừa là một
glycoside. Arbutin hay
arbutoside theo danh
pháp hóa học là
hydroquinone-beta-D-glucopyranoside.
Arbutin khi thủy giải sẽ
phóng thích hydroquinone
và được xem là ít gây
phản ứng phụ hơn là
hydroquinone nguyên dạng,
khi dùng cùng một nồng
độ có lẽ do phản ưng
thủy giải được diễn ra
từ từ. Các nghiên cứu đã
định tỷ lệ hữu hiệu của
arbutin là trong khoảng
3-7 %. (The Journal of
Pharmacology and
Experimental
Therapeutics Số 2-1996).
Arbutin có
những dạng đồng phân như
alpha-arbutin, beta-arbutin
và còn có thêm dạng
desoxy-arbutin. Beta-arbutin
thường được gọi là
Bearberry extract.. Dạng
alpha có hoạt tính ổn
định hơn nên thường được
sử dụng nhiều hơn.
Tuy arbutin
thật sự có hoạt tính ức
chế tyronidase, làm giảm
lượng melanin nhưng hiện
nay chưa có những nghiên
cứu so sánh trực tiếp sự
hữu hiệu giữa arbutin và
hydroquinone.
Arbutin có nguồn gốc từ
những cây cỏ như:
Mitracarpus scaber.
Arctostaphylo suva-ursi
(Bearberry)
Morus bombycis
(Mulberry)
Morus alba (white
mulberry)= Dâu tằm
Broussonetia papyrifera
(paper mulberry)= Dướng
Vỏ quả lê.
Hiện nay
do những trở ngại về vấn
đề 'bằng sáng chế'
(patent) đã cầu chứng
nên đa số các công ty mỹ
phẫm sử dụng các trích
tinh từ cây cỏ chứa
arbutin thay vì arbutin
nguyên dạng. Việc sử
dụng này đưa đên những
vấn đề về tiêu chuẩn
hoạt chất có trong sản
phẩm (các trích tinh cây
cỏ trên có thể còn chứa
thêm những chất ..khác
hơn là arbutin..)
Dịch chiết
từ rễ cây dướng (Paper
mulberry extract) có
chứa các hoạt chất thuộc
nhóm phenyl và
polyhydroxyl mono hay
bis-phenyl Một thử
nghiệm nhỏ ghi nhận dịch
chiết ở nồng độ 0.4 % có
khả năng ức chế
tyrosinase đến 50 % (so
với hydroquinone phải
cần đến 5.5 % và kojic
acid cần 10 %). Nồng độ
cao của paper mulberry
extract đến 1 %, không
gây những phản ứng khó
chịu, mẫn cảm cho da.
3- Kojic acid:
Kojic acid
là một sản phẩm phụ lấy
được từ tiến trình ủ gạo
để sản xuất rượu Sake
tại Nhật. Kojic acid
được sản xuất bởi nhiều
loại nấm mốc như
Aspergillus orizae (tại
Nhật được gọi là koji).
Kojic acid cũng có thể
được sản xuất bằng các
phương pháp sinh tổng
hợp như phân giải
glucose bằng men
dehydratase.
Kojic acid
có hoạt tính ức chế sự
tổng hợp sắc tố (như
melanin) nơi mô tế bào
thực vật và động vật.
Trong nông nghiệp kojic
acid được dùng đễ giữ
trái cây đã hái khỏi
cành chậm chuyển sang
màu nâu. Trong công
nghiệp thực phẩm kojic
acid giúp giữ màu hồng
và đỏ tươi cho cá và hải
sản sau khi đánh bắt.
Về phương
diện hóa học, phân tử
kojic acid không bền,
khi tiếp xúc với không
khí hay ánh sáng, bị
chuyển sang màu đỏ và
mất hoạt tính. Các nhà
sản xuất mỹ phẩm thường
dùng dạng dipalmitate,
được xem là dễ pha chế
hơn; kojic palmitate là
một chất chống oxy hóa
khá tốt. Một số nghiên
cứu khoa học ghi nhận
kojic acid có khả năng
gây ung thư khi dùng
những liều thật cao (thử
nghiệm cho chuột dùng
kojic acid lượng cao,
trong 26 tuần, gây ung
thư gan cho chuột).
(Toxicology Sciences Số
tháng 9-2004) Tại Nhật,
từ 1989, có nhiều loại
kem làm trắng da dùng
hoạt chất từ kojic acid.
Hàm lượng thường dùng:
1-4 %
4- Azelaic acid:
Azelaic acid
là một hoạt chất tự
nhiên, thuộc nhóm
dicarboxylic acids,
nguồn gốc từ hạt ngũ cốc
(lúa mì, lúa mạch, lúa
miến), thường dùng trong
mỹ phẩm để trị mụn trứng
cá. Azelaic acid cũng có
hoạt tính ức chế men
tyrosinase, đồng thời
ngăn chặn sự sinh sản
của những tế bào
melanocyte bất thường
bằng cách làm giảm sự
tổng hợp DNA. Azelaic
acid đã được dùng trong
các kem làm trắng da trị
các vết nám, tàn nhang
(International Journal
of Dermatology Số
12-1991). Kem chứa
azelaic acid không tác
dụng trên da bị nám do
các tiến trình bình
thường, và có thể chỉ có
hoạt tính trong các
trường hợp da nám do sự
biến đổi bất thường của
melanocytes..
Tại Hoa Kỳ,
azelaic acid (nồng độ 20
%) được phép dùng trong
các thuốc trị mụn trứng
cá (xem bài Kem trị mụn),
tuy nhiên đôi khi được
các bác sĩ cho toa để
trị nám (off-label).
Azelaic acid hầu như
không tác dụng trên age
spots..
Một nghiên
cứu tại Nam Mỹ, trong 24
tuần thử nghiệm, ghi
nhận sản phẩm chứa 20 %
azelaic acid có hoạt
tính tương đương với
hydroquinone 2 % trong
việc điều trị melasma.
Tại Philippines, thử
nghiệm tương tự cho rằng
azelaic acid (20 %) tác
động mạnh hơn
hydroquinone (2 %) và
thích hợp cho những
người dị ứng với
hydroquinone. (Journal
of the American Academy
of Dermatology Số
5-2006).
5- Glabridin:
Glabridin,
một hoạt chất trong phần
tan trong nước của
trich1 tinh cam thảo, có
hoạt tính ngăn chặn sự
tổng hợp melanin, có lẽ
cũng do ức chế
tyronidase. Glabridin
được dùng trong kem xóa
vết nám tại một số nơi
trên thế giới. Glabridin
được xếp vào loại hóa
chất khá an toàn khi
dùng ngoài da, tuy nhiên
cho đến nay, chưa có các
nghiên cứu để ứng dụng
rộng rải hơn trong mỹ
phẩm.
Glabridin và
các hoạt chất khác trong
cam thảo còn có khả năng
chống sưng do ức chế sự
tổng hợp của các anions
superoxyde và ngăn chặn
sự hoạt động của
cyclo-oxygenase, nên có
thể giúp da tốt hơn..
Vài mỹ phẩm có thể ghi
tên hoạt chất là DG
Licorice root hay
Licorice root extrach.
6-Các hoạt chất khác:
Ngoài các
hoạt chất trên, một số
các hoạt chất khác cũng
được dùng, tuy không
thông dụng, để trị các
vết nám. Các hoạt chất
này có thể được pha trộn
thêm vào các mỹ phẩm và
có thể được quảng cáo là
giúp tăng sự hiệu nghiệm
cho sản phẩm.
(xin lưu ý là mỹ phẩm
không phải là thuốc, nên
không cần chứng minh sự
hiệu nghiệm theo tiêu
chuẩn của FDA)
Vitamin C:
Vitamin C và các chất
chuyển hóa trong nhóm
ascorbic acid như
magnesium ascorbyl
phosphate, sodium
ascorbyl phosphate được
xem là những chất chống
oxy-hóa mạnh cho da,
giúp da trở thành nhạt
hơn. Vitamin C làm tăng
nồng độ gluthathione
trong cơ thể. Thử nghiệm
cho chuột bọ dùng hỗn
hợp vitamin C, vitamin
E, L-cysteine làm da trở
thành nhạt hơn (BioFactors
Số 21-2004).
Cinnamomum
subavenium: Quế gân to=
Rể thơm. Cây đang được
nghiên cứu để làm thuốc
làm nhạt da. Hoạt chất
trong cây có tác dụng ức
chế tyrosinase. Các
nghiên cứu dựa trên thử
nghiệm tại ĐH Y-khoa
Kaohsiung (Taiwan) cho
thấy dịch chiết từ cây
có khả năng làm mất màu
những sọc trên thân cá
zebrafish (NewYork Times
29 March 2011).
Niacinamide:
Một số công ty mỹ phẩm
dùng niacinamide (còn
gọi là Vitamin B3) trong
kem làm nhạt da, riêng
các loại kem thoa trong
vùng da bộ phận sinh dục.
Niacinamide hoạt động
bằng cách ngăn chặn sự
chuyển vận melanosome từ
các tế bào melanocytes
sang tế bào
keratinocytes. Theo
Procter & Gamble,
niacinamide an toàn, làm
giãm nụn trứng cá, tăng
độ ẩm cho da, mờ vết
nhăn (Procter & Gamble:
Skin lightening
Products).
Tretinoin và
Alphahydroxy acids (Xin
xem lại các bài Kem
dưỡng da, Kem xóa vết
nhăn).
Thủy ngân: Dạng
thường dùng là mercury
(II) chloride và
ammnoniated mercury.
Những chất này đã bị cấm
dùng trong kem làm trắng
da tại Âu châu từ 1976
và tại Hoa Kỳ từ 1990 do
những phản ứng độc hại.
Tuy nhiên tại nhiều quốc
gia Á châu, vẫn được sử
dụng trong mỹ phẩm.
Hỗn hợp trích
tinh của nhiều dược thảo:
Các nhà sản xuất mỹ phẩm
còn dùng những hỗn hợp
trích tinh (dù chưa có
những nghiên cứu và thử
nghiệm về mức độ hiệu
nghiệm của các hoạt chất)
như:
- Biowhite
Mulberry Grape Juice:
hổn hợp trích tinh
mulberry, rễ scutellaria,
rễ saxifraga, quả nho.
- Gigawhite: quảng
cáo là dùng trích tinh
từ 7 cây thuốc trồng
trong vùng núi Alps của
Thụy Sĩ gồm Malva
sylvestris, Mentha
piperita (Bạc hà),
Primula veris,
Alchemilla vulgaris,
Veronica officinalis,
Melissa officinalis và
Achillea mille folium..
Đây là những cây có chứa
tinh dầu. Gigawhite 5 %
được 'cho là' có khả
năng làm nhạt vết nám
sau 12 tuần và không gây
mẫn cảm cho da (?)
Vài điều cần biết
khi dùng Kem xóa vết nám:
Theo tài liệu của
Mayo Clinic, trước khi
dùng kem xóa vết nám cần
phân biệt các 'đốm và
vệt bất thường' xuất
hiện trên da như:
Nốt ruồi (moles):
đốm thường nhỏ và có màu
nâu đỏ, có thể hơi nhô
cao hay phẳng, xuất hiện
trên toàn thân.
Seborrheic
keratoses: Đốm dạng mụn
cóc màu nâu hay đen có
thể rất nhỏ và có thể
lớn đến 2.5 cm.
Lentigo maligna: Một
dạng ung thư da loại
melanoma nơi những vùng
da bị tác hại do tia
nắng trong thời gian kéo
dài. Vết nám có thể khởi
đầu bằng vết lở màu nâu
hay đen và lớn dần, vùng
ven của vết không đều,
màu không đồng nhất và
hơi nhô lên..
Không dùng kem xóc
nám trên các đốm, vệt
bất thường kể trên.
Điều căn bản khi
dùng bất kỳ loại kem nào
lần đầu tiên là thử thoa
kem vào một vùng da non
bên trong cánh tay hay
nơi bắp đùi để thử phản
ứng bất thường có thể
xẩy ra. Chờ phản ứng cơ
thể trong 24 giờ.
Khi dùng Kem xóa vết
nám có chứa hydroquinone
cần lưu ý:
- Để có thể công hiệu
cần thoa kem mỗi ngày,
và để tránh các phản ứng
phụ không nên dùng kem
trong thời gian kéo dài
quá 6 tháng.
- Cần dùng phối hợp
với Kem chống nắng loại
đa phổ có SPF từ 30 trở
lên (Xem bài Kem chống
nắng.
- Không dùng kem chứa
hydroquinone khi có thai
và khi cho con bú; không
dùng nơi trẻ em dưới 12
tuổi.
Khi thoa kem xóa
nám có thể sẽ bị những
phản ứng loại mẫn cảm
tạm thời như ngứa, nổi
mẫn đỏ, da bị khô..
Cần xem kỹ công
thức các 'mỹ phẩm' nhất
là phần tá dược
(inactive ingredients),
loại chứa sulfites có
thể gây kích khởi các
cơn suyễn..
Một số kem trị vết
nám (loại mỹ phẩm) từ Âu
châu và Nhật tuy ghi là
'skin whitening' nhưng
còn ghi thêm 'skin looks
whiter'..'da thấy trắng
hơn' chỉ là một kỹ
thuật quảng cáo tránh
sản phẩm khỏi bị kiện
cáo vì..vô hiệu. Không
có tiêu chuẩn nào để xác
nhận là da.. thấy trắng
hơn?
Cũng cần chú ý đến
hàng chữ 'Dermatologist
approved',
'Dermatologist
recommended' trên hộp mỹ
phẩm. Cũng chỉ là một kỹ
thuật 'moi tiền' tạo
niềm tin cho người tiêu
thụ vì 'mỹ phẫm' theo
định nghĩa, không phải
là thuốc, nên không buộc
phải chứng minh sự hiệu
nghiệm. Muốn ghi chữ
Dermatologist approved
chỉ cần 'nhờ' một (01)
BS về da đồng ý là đủ.
Danh từ 'Clinical
proven, Clinical tested'
(Đã được chứng minh bằng
thử nghiệm) cũng chẳng
có giá trị gì vì thử
nghiệm như thế nào và
tại đâu cũng không cần
phải chứng minh.
Trần Minh Quân
|
|
|