Trần Minh Quân

 

 

 

 THUỐC ĐÔNG - THUỐC TÂY TỪ RẮN

Trần Minh Quân

Yves-lvesque-the-snake GIFs - Get the best GIF on GIPHY

Rắn

                                         
 
          Rắn, một sinh vật đã có những sinh hoạt liên hệ đến con người từ thời Thượng cổ. Kinh Thánh đã nói về Rắn ngay khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người. Rắn có mặt trong rất nhiều truyền thuyết Tôn giáo trên Thế giới..

          Đã có rất nhiều tác giả viết về rắn qua những món ăn, món nhậu và những truyện đồng quê lý thú.

 
          Rượu rắn, một sản phẩm đặc biệt của một số quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan.. đã được trình bày riêng trong bài Rượu rắn (của cùng tác giả). Một số loài rắn được dùng để ngâm rượu đã được mô tả trong bài. Rắn biển hay Đẻn cũng đã được trình bày riêng rẽ (xin đọc bài Đẻn, hay Rắn biển).

 
          Phạm vi bài này xin giới hạn trong chủ đề Rắn dùng làm thuốc...
 
Thuốc từ Rắn trong Đông dược:

          Dược học cổ truyền Trung Hoa đã dùng rắn làm thuốc từ lâu đời. Việc dùng da rắn đã lột làm thuốc trị bệnh đã được ghi chép trong Thần nông Bản thảo kinh (năm 100 - Tây lịch), dược liệu được dùng trị một số bệnh ngoài da như mụn nhọt, bệnh mắt mờ. Mật rắn dùng làm thuốc được Đào hoàng Cảnh ghi lại trong Minh Y Biệt lục (thời Nam-Bắc triều-năm 600) dựa theo Thần nông bản thảo và thêm vào những vị thuốc từ da và từ thịt của Rắn hổ (fanshe). Những vị thuốc này được xem là chủ trị bệnh ngoài da, trị đau nhức.

          Một số loài rắn khác cũng được liệt kê trong các sách thuốc cổ như loài rắn nước Zaocys, thân sọc đen (Wushaoshe = Ô sao xà) đã được mô tả trong Yang xing Ben cao = Dược tinh Bản thảo (Trương Quyền=Zhen Quan, năm 600) và loài rắn hổ độc Agkistrodon (Baihuashe = Bạch hoa xà, Qishe = Kỳ xà) được ghi trong Kai Bao Ben cao = Thái bảo Bản thảo (Mai Zhi, 973). Riêng về phần dùng rắn làm thực phẩm đã được ghi chép từ đời nhà Đường (618-907), bao gồm thịt trăn và thịt rắn hổ; sự kiện ăn thịt rắn tại Trung Hoa có lẽ do ảnh hường của Ấn độ và Ả Rập.
 
1700665849159blob.jpg  1700666162492blob.jpg
 
  Rắn nước Zaocys / Wu shao she (Black-tail snakes) in Chinese
1700667195808blob.jpg    1700667880293blob.jpg
 
Baihuashe = Bạch hoa xà    /    Agkistrodon
 

 
          Các thầy thuốc cổ truyền đã chú ý đến rắn do 3 đặc điểm chính: rắn rất linh động và uyển chuyển, rắn lột da và có những loài rắn rất độc.

 Đông dược sử dụng nhiều bộ phận của rắn để làm thuốc:

- Thịt rắn hay Nhục xà.
- Mật rắn hay Xà đởm.
- Xác rắn (da rắn sau khi lột) hay Xà thoát.
- Mỡ rắn.

Thịt rắn:

          Thịt rắn thường được dùng dưới dạng bột khô hay ngâm rượu (xin xem bài Rượu rắn) ăn tươi hoặc nấu cháo.

          Đặc tính trị liệu của thịt rắn được dựa trên sự mềm dẻo của rắn, thân uốn éo dễ dàng nên được cho là có thể trị được các chứng sưng khớp xương khiến thân thể trở thành cứng khó xoay trở, cong người. Rắn di chuyển nhanh nên các thầy thuốc "cho rằng" thuốc từ rắn sẽ đi vào cơ thể nhanh chóng và rắn trị được các bệnh về "Phong" tà.

 
          Thịt rắn (bỏ nội tạng) được xem là có vị ngọt/ mặn, mùi tanh, tính ấm, đi vào kinh mạch thuộc Can và Tỳ, có các tác dụng khử phong, giảm đau, trừ thấp và tiêu độc..

 
                                  1700668670951blob.jpg                        
 
             Viande De Serpent Sur Le Gril (Thịt rắn trên vĩ nướng)  
 

 
          Các kết quả phân chất tại Trung Hoa ghi nhận thịt rắn chứa nhiều chất đạm. Thành phần acid amin trong chất đạm bao gồm nhiều cả những acid amin cần thiết cho cơ thể như lysine, leucine, arginine, valine.

 
          Trong danh mục đặc chế Đông dược của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có ghi  đặc chế  Hua She Jie Yang Wan (Hoa Xà Giải Dương Hoàn) là thuốc trị ngứa (dương=ngứa) trong công thức dùng bột thịt bạch hoa xà (10%) và ô sao xà (5%) phối hợp với nhiều vị thuốc khác như hoàng kỳ (10%), nhân sâm (10%), Đương quy, Xuyên khung, Sinh địa được dùng để bổ khí, dưỡng Huyết, trị ngứa ngoài da do phong nhập... Thuốc được bán trên thị trường dưới tên Kai Yeung Pill do Hanyang Pharmaceutical Works, Hong Kong sản xuất.
                                     1700671689465blob.jpg                       
Kai Yeung Pill do Hanyang Pharmaceutical Works, Hong Kong sản xuất.

 
Da rắn lột:

 
          Rắn có khả năng lột da nên da rắn lột được tin là có khả năng trị các bệnh ngoài da, trị bệnh mắt mờ do giác mạc (da của mắt).
                      
                            Serpents GIFs - Obtenez le meilleur gif sur GIFER
 
                                            Rắn có khả năng lột da
 

 
          Xác rắn lột là những mảng da mỏng hơi trong, nổi rõ lớp vẩy, thường bị ép bẹp nhăn nhúm. Mặt trên màu xám bạc óng ánh, có vẩy mỏng, mặt dưới màu trắng ngà nhạt hay vàng nhạt.

 
          Vị thuốc được gọi là shè-tui hay Xà thoát. Nhật dược (Kampo) gọi là dataihi. Hàn quốc: sase.

 
           1700671843374blob.jpg   1700672247277blob.jpg
 

 
                            Snakeskin (She Tui)
 

 
          Xác rắn lột có vị ngọt/ mặn hơi tanh, tính bình, vào kinh mạch thuộc Can, có các tác dụng sát khuẩn, chống sưng, giải độc, trị kinh phong.

          Để làm dược liệu, xác rắn lột được phun rượu cho ướt đều, ủ cho ngấm sau đó sao nhẹ đến khô.
 
          Dược học cổ truyền Việt Nam có một số phương thức dùng xác rắn lột như:

          Nam dược thần hiệu (Tuệ Tĩnh): Xác rắn lột cho vào ống tre, đốt lấy khói, xông vào cổ họng để trị viêm họng.

          Tuệ tĩnh dùng xác rắn lột để trị cấp kinh trẻ em, sát trùng, ghẻ lở..

          Lĩnh nam Bản thảo (Hải thượng Lãn ông): Xác rắn lột cắt nhỏ, sao, tán thành bột, tẩm rượu thành bánh nhão, dùng đắp trị các mụn nhọt săn cứng không có mủ..

          Quyển thượng ghi: Xà thoát tục gọi là xác rắn.

          Ngọt, mặn, không độc chữa mau mắn.

          Trẻ em, cấp kinh, tà độc..trúng.

          Thúc đẻ, họng đau, lở lành nhanh.

          Các phân tích khoa học ghi nhận trong xác rắn lột ngoài collagen còn có khoảng 24 khoáng chất vô cơ, quan trọng nhất là sắt, magnesium, kẽm, manganese và đồng tuy nhiên còn có nhôm và chì; xác lột của vài loài rắn còn có những lượng rất nhỏ arsenic, berylium.

          Những thử nghiệm "mới" tại các bệnh viện Trung Hoa ghi nhận những hoạt tính (theo Dan Benske trong Chinese Herbal Medicine Materia Medica, trang 169):

         Trị bệnh bị nhiễm ấu trùng sán (cysticercosis) xâm nhập hệ thần kinh. Bột xà thoát phối hợp với những dược liệu khác đã được dùng để trị cystedercosis nhập vào óc trên hàng ngàn bệnh nhân tại Trung Hoa. Thời gian điều trị thường phải kéo dài nhưng thông thường một số triệu chứng như nhưc đầu, run rẩy, nói năng khó.. được cải thiện ngay sau vài tháng dùng thuốc. Trong một nghiên cứu 250 người bệnh được điều trị kéo dài 1 năm: 32% cải thiện tốt, 64% có kết quả khả quan và 0.8% tử vong.

           Sưng tuyến mang tai (parotid) trong bệnh quai bị: Nơi 90 trường hợp quai bị, trị bằng bột xà thoát trộn trứng: 81% khỏi bệnh sau 2 ngày.

           Dùng trong nhãn khoa: 27 trong 30 trường hợp bị 'lẹo' nơi mắt, khỏi bệnh sau khi cho đắp xà thoát thấm ướt với giấm trong vòng 3 ngày..Theo dõi suốt năm sau đó, không có trường hợp nào bị tái phát.

Mật rắn:

 
           Mật rắn được xem là có vị ngọt/cay, đặc biệt nhất là không đắng có các tác dụng làm giảm đau, trị ho. Mật rắn thu hoạch vào các mùa xuân và hè có hàm lượng chất đặc cao nhất.

 

           1700672836823blob.jpg
 
                         Mật rắn   
      
           Mật rắn có thể nuốt tươi ngay sau khi mổ, lấy ra từ rắn hoặc pha với rượu 20 độ rồi uống để trị phong thấp, đau nhức khớp xương.

           Rượu mật rắn cũng dùng để khai vị và làm thuốc bổ.

           Các nghiên cứu "mới", phân tích hóa học về mật rắn ghi nhận: Mật rắn chứa cholesterin, các acid palmitic, stearic và cholic và khác với mật của các động vật khác là không có desoxycholic acid và lithocholic acid.

          Phân tích mật của 16 loài rắn thường được bán trên thị trường thuốc Bắc Trung Hoa cho thấy thành phần cholic acid thay đổi khá rộng: Mật rắn hổ (Naja spp) có thể chứa cholic acid cao gấp 3 lần mật rắn nước (Zaocys). Dùng phương pháp sắc ký trên lớp mỏng (thin layer chromatography) để phân tích mật của những loài rắn khác nhau cho thấy mật của 2 loài hổ mang bành (Naja naja) và hổ mang chúa (Ophiophagus hannah) có đến 11 vệt trên sắc ký đồ, trong khi đó mật của đa số các loài rắn khác chỉ có 8 vệt, chứng tỏ mật của hổ mang có thể có hoạt tính khác hơn.

     Một vài phương thuốc cổ truyền từ mật rắn:

          - Tam xà đởm trần bì:

          Mật của 3 loài rắn: hổ mang, cạp nong hay cạp nia, rắn ráo phối hợp với vỏ quýt dùng trị đau bụng và tiêu chảy, ho.

          - Tam xà đởm Xuyên bối mẫu (Shan she dan Chuan Bei mu):


          Thuốc đã được "tiêu chuẩn hóa" và chính thức ghi trong Dược điển Trung Quốc, công thức gồm 1 phần mật rắn pha trộn với 6 phần bột Xuyên bối mẫu = Fritillaria thunbergii (phơi khô và tán thành bột), dùng trị ho và tiêu đờm, theo liều lượng ngày 2-3 lần, mỗi lần 300-600mg. Dạng thuốc nước được ghi là Tam xà đởm Xuyên bối mẫu cao".

 
          Danh mục thuốc đặc chế Trung Hoa có ghi She Dan Chen Pi San = Xà đởm Trần bì tán, là thuốc bột công thức gồm mật rắn (0.13%), vỏ quýt (61.65%), giun đất sao = di-long (12.33), cương tằm (12.33), Chu sa (12.33), Hậu bổ (1.23%) dùng trị ho, sưng phổi, ho gà. Công thức phối hợp được cho là "trục nội phong", trừ đờm, an Thần.. Thuốc do United Pharmaceutical Manufactory, Quảng Châu sản xuất.

 
     Thuốc Âu-Mỹ từ Rắn:

          Tây Y chỉ chú trọng đến nọc độc từ rắn và dùng nọc độc để nghiên cứu về các hoạt tính dược học, ứng dụng dược tính để bào chế nhiều loại thuốc khác nhau từ huyết thanh kháng nọc đến các thuốc trị huyết áp, chống đông máu trị stroke, nhồi máu cơ tim và hiện nay trong các thử nghiệm để trị vài loại ung thư.

          Các nhà nghiên cứu nói chung, từ trước đến nay, đều đồng ý là nọc độc của rắn được tạo ra và chứa trong các hạch nọc nằm ở hai bên đầu rắn. Nhưng dựa trên các khảo nghiệm về DNA, nhà nghiên cứu người Úc, Bryan Fry đã đưa ra những nhận định khác "Phần lớn các protein và enzym trong nọc rắn đều có những liên hệ khá tương cận với những chất đã có sẵn tại những bộ phận cơ thể khác của rắn như gan, bộ tiêu hóa.. Gènes điều khiển sự tạo lập các chất này, do một kích khởi chưa xác định nơi tuyến nước bọt của rắn, chuyển các chất này thành..nọc độc".

     Hệ thống phóng nọc:


 
          Tất cả các loài rắn độc đều có răng biến đổi để chúng có thể chủ động chích chất độc vào con mồi. Hệ thống phóng nọc thay đổi tùy theo họ rắn (Rắn độc thường tập trung trong các họ Columbridae, Elapidae, Viperidae..).

 
                                  
      tumblr n459qtHJFS1tw9gyko1 500.gif | Snake lovers, Snake gif, Snake
 
                                              Rắn phun nọc
 

 
          Nhóm răng không rãnh (aglyphous snakes): Do răng không rãnh nên nọc không theo răng để vào con mồi. Nhóm này có nanh rất ngắn, nằm tận đằng sau miệng, nên rắn phải đưa được con mồi vào trong miệng, và phải nhai để đưa chất độc vào con mồi. Rắn ráo nằm trong nhóm này.

 
                                   1700674179682blob.jpg
 

 
           Nhóm răng có rãnh nằm ở phía trước hàm (proteroglyps snakes): Rãnh nằm sâu trên răng ở cả 2 bên răng và nối kết thành kênh (như kênh đào) để nọc rắn chảy theo dễ dàng. Khi rắn cắn con mồi, hạch chứa nọc co thắt và nọc được phóng trực tiếp vào con mồi. Họ elapidae (rắn hổ mang) và crotalidae (rắn đuôi chuông) trong nhóm này.

 
                                           1700677564396blob.jpg
 
                                      
 
           Nhóm răng có rãnh tạo thành ống (solenoglyphous snakes) .

 
          Răng nanh ở hàm trên biến đổi thành một ống chích: khi rắn ngậm miệng, nanh quay ngược về phía sau trên vòm họng dưới, nhưng khi rắn săn mồi, nanh bật về phía trước. Khi rắn cắn phập vào mồi, nọc độc được phóng từ tuyến nước bọt qua các ống rỗng trên nanh để đi vào con mồi. Họ viperacea (rắn lục) thuộc nhóm này.

 
                                  1700677818628blob.jpg                                    
 
                                           
 
          Nhóm nanh có rãnh nằm sau hàm (opisthoglyphous snake): Nanh có rảnh ở bên cạnh và nanh nằm phía sau của hàm.

 
                             1700680992155blob.jpg
 

 
                                      
                    
                                 Snake GIF - Find on GIFER
 

 
Thành phần của nọc rắn:

          Nọc rắn, khi mới thu hoạch là một chất lỏng, không màu, trong suốt. Sau khi làm khô ở nhiệt độ thấp, cô đọng còn 50-70% nước, nọc chuyễn sang màu hơi vàng, ở trạng thái lỏng và lợn cợn.

          Nọc rắn, nói chung, chứa: Proteins (90-95% trọng khối khô), các acid amin, lipid, steroids, aminopolysaccharides, quinones, 5-hydroxytriptamine (5-HT), glycosides và một số hợp chất phức tạp khác.

          Hoạt tính của nọc rắn tùy thuộc phần chính vào các enzym = men và polypeptides trong nọc.

          Có ít nhất khoảng 25 enzyms trong nọc rắn:


          Các enzym ly giải protein, phân tử lượng từ 20 ngàn đến 90 ngàn KDa, bao gồm các fibrogenase, các yếu tố kích hoạt prothrombin, hemorragin. Arginin ester hydrolase gặp trong crotalidae và viperidae.

 
          Enzym loại thrombin như các enzym gây phóng thích thrombin như fibrinopeptide A và B.

          Collagenase trong nọc crotalidae và viperidae.

          Hyaluronidae gây phù.

          Phospholipase A2, B và C nhiều nhất trong nọc Cạp nong và cạp nia, rắn hổ..

          Lactate dehydrogenase, Phosphomonoesterase, - diesterase.. Acetylcholinesterase, Rnase, Dnase, 5-Nucleotidase..

          Các polypeptides trong nọc rắn, có phân tử lượng thấp (5-10 Kda) nhưng không có hoạt tính ly giải như các enzym như:

          Hợp chất gây độc hại thần kinh:
 alpha-bungarotoxin trong nọc Cạp nong, cạp nia), alpha-cobratoxin.

          Hợp chất ức chế kết dính tiểu cầu:
 desintegrins.

          Hợp chất gây kết dính tiểu cầu: Trimucytin, Aggretin.
 
     
Cách lấy nọc rắn:

          Có thể lấy nọc rắn bằng 2 phương pháp:

 
         - Để răng (nanh) có nọc độc dựa vào thành của hộp thủy tinh petri hoặc dụng cụ chế tạo riêng để lấy nọc. Dùng ngón tay cái và ngón trỏ cùa bàn tay phải bóp vào mang tai rắn (kích thích tuyến nọc nằm ở dưới da của mỗi bên mang tai rắn). Nọc rắn sẽ chảy vào nanh độc rồi theo rãnh của răng độc chảy vào hộp petri.. Mỗi con rắn cho khoảng 0.25 ml nọc.
                              
 
         - Dùng kích thích bằng điện: Áp hai điện cực vào hai bên mang tai rắn, kích thích bằng dòng điện xoay chiều 4-6 volt. Có thể dùng máy điện châm nọc cũng tiết vào hộp petri.

 
           Nọc rắn sau khi lấy có thể làm khô bằng cách để hộp petri chứa nọc vào bình hút ẩm có vôi sống, hoặc có silicagel. Phương pháp tốt nhất là sấy chân không ở áp suất 50-60mm thủy ngân, nhiệt độ 40-60°C trong 6 giờ.  
 
   1700681845353blob.jpg
 
 1700682013074blob.jpg
 

 
                                   Cách lấy nọc rắn
 
 
  Hoạt tính của nọc rắn:

           Nọc rắn có thể được chia thành 2 nhóm tùy theo nơi nọc tác động khi đi vào cơ thể con mồi:

           Nhóm nọc tác động vào máu và vào cơ thể, gây sưng phù. Nọc loại này gây đau nhức, khó thở vì ảnh hưởng cả trên hệ hô hấp. Nọc của họ Viperidae như rattlesnake, copperhead thuộc nhóm này.

           Nhóm nọc tác động vào hệ thần kinh
 gây co giật và tử vong. Hổ mang, rắn cạp nong, cạp nia trong nhóm này..

1- Hoạt tính ly giải fibrinogen và fibrin:

           Một số men (enzymes) trong nọc của một số loài rắn có khả năng làm vón cục fibrinogen. Hiện tượng này có những ứng dụng trị liệu quan trọng. Enzym có thể tách bỏ fibrinogen trong việc tuần hoàn của máu mà không cần chuyển đổi chúng thành fibrin hay gây sự kết tụ tiểu cầu.

           Có thể xếp các proteinases (có tác động phân cắt các nối peptids trong phân tử fibrinogen) trong nọc rắn thành 3 nhóm:

          - Enzym hoạt động như thrombin (thrombin proteases).

          - Enzym ly giải fibrinogen.

          - Enzym kích hoạt plasminogen.

            Hoạt tính gây ra tiến trình hủy fibrinin được ghi nhận nơi nọc của 3 loài rắn:
         
          - Ancrod từ nọc của Calloselasma rhodostoma,

          - Batroxobin từ nọc Bothrops atox moojeni và

          - Crotalase từ nọc Crotalus adamanteus.

            Ancord và batroxobin đã được thử nghiệm trên các bệnh nhân bị stroke, nghẽn tĩnh mạch, và nghẹt mạch mau não, nhồi máu cơ tim nghẽn mạch tim ngoại vi.

            Hoạt tính ly giải thrombin của men fibrinogenase trong nọc Vipera lebetina (VIF) đã được thử nghiệm trên chuột về tác dụng điều trị bệnh máu đóng cục trong tĩnh mạch (venous thrombosis).

            Cục máu được tạo nơi tĩnh mạch chân sau của chuột bằng cách chích fibrinogen và thrombin. Một giờ sau khi chích VIF cho chuột, máu trở lại lưu thông bình thường, sau 3 giờ mức fibrinogen giảm được 30%. Hoạt tính của VIF không tùy thuộc vào các yếu tố kích khởi plasminogen và có thể cộng hưởng với các yếu tố này nên rất thích hợp để dùng làm thuốc làm tan cục máu (Thrombosis Research Số 86-1997).

            Nhiều loại men ly giải fibrinogen khác cũng đã được ly trích từ nọc rắn như atroxase từ Crotalus atrox, fibrolase từ Agkistrodon contortrix = Hổ mang bành, lebetase từ Vipera lebetina. Atroxase và fibrolase đã được thử nghiệm in vitro với nhiều khả năng điều trị có thể ứng dụng (Circulation Số 90-1994).
 
            Khuynh hướng nghiên cứu hiện nay là tìm cách ứng dụng các men ly giải fibrinogen vào việc làm tan cục máu và việc trị giai đoạn bội sinh của các tế bào ung thư.

            Natrahagin, một men loại proteinase từ nọc rắn hổ mang đã được nghiên cứu về hoạt tính trên sự kết tụ tiểu cầu. Natrahagin là men loại alpha-gamma fibrogenase ức chế được hoạt động của các glyco-protein nơi màng tế bào tiểu cầu (Trung quốc Dược lý Nguyệt báo Số 20-1999).

            Nọc rắn lục Trimeserurus albolabris và Trimeserurus macrops có hoạt tính gây đóng cục máu (kiểu thrombin) khi cắn người và thú vật nhưng khi thử trong ống nghiệm (in vivo) lại tạo những hiện tượng chống tạo fibrin (Toxicon Số 37-1999). Các proteins trong nọc rắn lục có những hoạt tính thay đổi trong một khoảng rất nhỏ, có thể từ kích khởi, ức chế hay chuyển biến các yếu tố liên hệ đến việc làm đông máu hay làm tan cục máu.

            Nọc rắn Vipera lebetina có cả 2 khả năng: Vừa làm đông máu và vừa chống đông máu (Biochimica & Biophysica Acta Số 90-2001). Nọc rắn này chứa cả 2 yếu tố: yếu tố kích hoạt X và yếu tố kích hoạt V các men gây ly giải fibrin.

2- Hoạt tính trợ tim và chống loạn nhịp tim:

            Nọc rắn hổ Malaysian pit viper có những đặc tính làm loãng máu, nên có thể dùng trị các trường hợp stroke: trong một nghiên cứu nơi 500 bệnh nhân bị stroke, 42% những người được cho sử dụng loại thuốc Ancrod (từ nọc rắn) trong vòng 3 giờ sau khi bị stroke cho thấy có những kết quả phục hồi chức năng khả quan hơn những người dùng placebo (JAMA Số 283-2000). Tác động của Ancord trên những bệnh nhân bị máu đóng cục loại throbocytopenia do heparin đã được xác nhận về phương diện dược lực học.(Post Graduated Medicine Số 99-1996). Ancord đã được sử dụng trong các trường hợp thông tim (cardiac catherization) và làm bypass động mạch vành.

            Agkisacutacin, một hợp chất ly trích từ nọc rắn hổ mang bành Agkistrodon acutus có hoạt tính ngăn sự tạo cục máu và làm tăng sự ly giải thrombin trong trường hợp máu bị nghẽn nơi phổi khi thử trên chuột. (Genetic Pharmacology Số 35/2000).

            Một độc tố, không thuộc loại protein, phân tử lượng thấp (260) trích từ rắn hổ Ấn, có hoạt tính chống loạn nhịp tim ở nồng độ thử nghiệm rất thấp microgram/kg (Immunology Letter Số 75-2001).

3- Hoạt tính chống ung thư:

            Nọc từ nhiều loài rắn khác nhau đã được thử nghiệm về hoạt tính diệt bào trên nhiều dòng tế bào ung thư nơi người.

            Phospholipase A2, ly trích từ nọc Bothrops newweidii có hoạt tính diệt các tế bào ung thư melanoma B16 F10 (Toxicon Số 30-1992).

            Nọc hổ mang Naja naja diệt được tế bào ung thư Ehrlich. Cytotoxic P4 từ Naja nigrocollis độc hại với tế bào ung thư máu dòng Wehi-B (Toxicon Số 36-1998). Một yếu tố khác, cũng từ Naja naja, tuy không có hoạt tính loại phosphalipase nhưng vẫn diệt được một số dòng tế bào ung thư nơi người.

           VRCTC-310-Onco, một hỗn hợp các độc tố crotoxin và cardiotoxin, theo tỷ lệ bằng nhau, từ nọc rắn có những hoạt tính diệt bào in vivo. Nghiên cứu phase I đã được thực hiện để xác định liều dùng thuốc tối đa = maximum tolerance dose (MTD), các giới hạn an toàn và các kết quả dược động học. CRTC-310 có các hoạt tính loại PLA2 và ức chế sự tăng trưởng của nhiều dòng tế bào ung thư nơi người và chuột (Toxicology Số 99-1995).

          L-amino acid oxydases (LAAOs từ nọc rắn có các hoạt tính diệt bào và kháng sinh. LAAO từ rắn lục Trimeresus stejnegeri có khả năng diệt bào trên dòng tế bào ung thư máu C8166.

          Nhóm hợp chất desintrigrins từ nọc rắn, có hoạt tính chống đông máu đã được thử nghiệm về hoạt tính diệt bào trên các tế bào ung thư vú nơi người. Desintrigrin ngăn chặn sự phát triển của khối ung thư, can thiệp vào tiến trình angiogenesis (nuôi dưỡng tế bào) và làm chậm giai đoạn bội sinh và di căn của tế bào ung thư do cản trở được chức năng hoạt động của intregin nơi nội bào (Drugs Số 54-1997). Salmosin, một chất trong nhóm desintrigins chống sự kết dính tiểu cầu có những hoạt tính ngăn chặn sự phát triển của khối ung thư và chặn di căn (Cancer Research Số 59-1999).

         Nọc rắn Cạp nong Bungurus có hoạt tính diệt bào đối với tế bào ung thư Ehrlich (ascite carcinoma) khi thử trên chuột. Nọc này, tùy theo nồng độ sử dụng, ngăn chặn sự tăng trưởng của khối ung thư, cả ở trong ống nghiệm lẫn thử nghiệm lâm sàng. Trong nọc còn có một desintrigrin ức chế được sự lan tràn của tế bào ung thư tử cùng dòng Ovacar-5 nơi người.(Haemostasis Số 31-2001).

         Từ nọc rắn Southern copperhead, các nhà nghiên cứu tại ĐH UCLA đã ly trích được contorstrostatin, một protein có khả năng chặn sự kết bám của tế bào ung thư vào các tế bào lành mạnh khác, đồng thời cũng chặn được các tín hiệu từ các tế bào ung thư, làm ngưng sự sinh sản thêm các tế bào ung thư khác, do đó làm ngưng sự di căn khi thử nghiệm trên các tế bào ung thư tử cung và ung thư phổi. Kết quả được ghi nhận là giảm sự lan tràn của các tế bào ung thư đến 90%. National Cancer Institute đang tiếp tục các thử nghiệm  (Pathophysio logy of Haemostasis and Thrombosis Số 34-2005).

4- Hoạt tính chống tê liệt:


        Nọc của nhiều loài rắn gây ra tình trạng con mồi tê liệt bắp thịt sau khi bị cắn: Trong nọc có những yếu tố gây độc hại thần kinh, ngăn chặn sự dẫn truyền của những luồng thần kinh. Các yếu tố này đã được sử dụng trong những nghiên cứu về các thụ thể nicotinic acetylcholin (nAChR) nơi tế bào thần kinh và nơi tiếp giáp thần kinh. Các thử nghiệm lâm sàng, đánh giá tác dụng của notexin, một phospholipase từ nọc rắn, trong bệnh sụp mí mắt (ptosis), cho thấy notexin có thể làm tăng sức cường của bắp thịt nơi mắt (The Lancet Số 353-1999).

5- Hoạt tính trên não bộ và hệ thần kinh:

        Nọc độc của loài rắn Dendroaspis spp (African mamba) được xem là độc nhất trong thế giới động vật. Chỉ cần một lần cắn, nọc có thể gây tê liệt một con hươu cao cổ hay một con sư tử và gây chết người trong vòng 10-20 phút. Do sự tài trợ của NHI (National Health Institute), các nhà nghiên cứu tại Puerto Rico đã nghiên cứu về hoạt tính của nọc rắn mamba trên hệ thần kinh.

         Các kết quả ghi nhận: Nọc mamba tác động một cách chuyên biệt vào một số loại thụ thể thần kinh nơi bề mặt não bộ và tế bào sợi thần kinh. Não bộ dùng một số thụ thể này để nhận các tín hiệu giúp não hoạt động như học, tạo khả năng nhớ, cảm nhận sự đau.

         Các tế bào của sợi thần kinh cũng nhờ các thụ thể này để chuyển tiếp các tín hiệu đến các bắp thịt chung quanh, gây các phản ứng như co thắt hoặc thư giãn để ảnh hưởng đến nhịp thở và nhịp tim. Trong số những thụ thể này, các nhà nghiên cứu đã xác định được 5 týp phụ có liên hệ trực tiếp đến các bệnh suyễn, Alzheimer's, Parkinson's và cảm giác đau.

         Các nghiên cứu về nọc mamba đang được chú trọng vào các bệnh trên: Hợp chất mambalgins, trích từ nọc mamba, cho thấy có hoạt tính trị đau mạnh như nhóm thuốc trị đau lấy từ thuốc phiện, kể cả morphine, mà không gây những phản ứng phụ như morphine, kể cả sự nghiền thuốc.

        Mambalgin có khả năng chặn các kênh ions tạo cảm giác đau (acid-sensing ions channels)(National Geographic News; 10-4-2012). Trong nọc mamba còn có những yếu tố nuôi dưỡng sự hình thành các tế bào thần kinh mới, có thể có những ứng dụng để giúp điều trị Alzheimer's.

6- Các hoạt tính sinh học khác:


       Hoạt tính trị đau của nọc rắn đã được xác nhận qua khá nhiều thử nghiệm. Morphine làm tăng tác động chỉ thống của nọc Crotallus durissus, trong khi đó naloxone lại đối kháng hoạt tính này, do đó hoạt động của yếu tố trị đau này được xem là tương tự như endorphin (Toxicon Số 31-1993).

       Cobrotoxin, một độc tố trong nọc rắn hổ mang Naja naja có hoạt tính trị đau khi thử trên chuột dưới cả hai dạng chích và cho uống. Độc tố hannalgesic từ nọc rắn hổ mang chứa Ophiophagus hannah có hoạt tính trị đau ở nồng độ 16-32 nanogram/g khi chích qua màng phúc toan mà không gây những phản ứng phụ về thần kinh và co bắp thịt (Toxicon Số 33-1995).

       Nọc hổ mang chúa cũng có hoạt tính kích khởi hoạt động của hệ miễn nhiễm. Một yếu tố, nhiệt bền, trích từ nọc rắn lục Vipera russelli có khả năng điều hòa hoạt động tim-phổi khi thử trên thú vật.

  Ứng dụng để làm thuốc:

         Từ nọc rắn, các nhà nghiên cứu tại Âu Mỹ đã tìm và chế tạo được những huyết thanh kháng nọc rắn và nhiều dược phẩm khác nhau. Một số dược phẩm tuy được sử dụng tại quốc gia sản xuất nhưng có thể chưa được FDA chấp nhận cho dùng tại Hoa Kỳ..

 
         Dược phẩm đầu tiên, phát xuất từ các nghiên cứu về nọc rắn là Captopril. Đây là một dược phẩm làm hạ huyết đã được sử dụng tại Hoa Kỳ từ thập niên 70s. Captopril được tổng hợp dựa theo một độc tố trích từ nọc rắn Bothrops jaracusa (Brazilian arrow-head viper). Captopril làm hạ huyết áp bằng cách ức chế men chuyển biến angiotensin (ACE=Angiotensin Converting Enzyme). Tại Hoa Kỳ, hai đặc chế từ nọc rắn hổ mang, Cobroxin (VBC Hynson, Wescott và Dunning) và Nyloxin (VBC Lederle) đã được dùng trên thị trường từ 1972 để trị đau và sưng xương khớp, nhưng sau khi FDA ban hành các điều khoản mới, các đặc chế này đã tự ngưng sản xuất.

 

     1700682383993blob.jpg
 

                                       
              Khoảng giữa thập niên 1970, Bác sĩ Ben Sheppard tại Miami bị sưng xương khớp loại rheumatoid (RA) đã thử tự dùng Venagen/PROveo, một hổn hợp nọc rắn thô từ răng hổ cạp nong, rắn lục do Trung tâm Nghiên cứu về Rắn (Miami Serpentarium) pha chế. Do những kết quả tốt ngay trên bản thân, ông đã lập Viện Ben Sheppard Foundation và dùng Venagen để điều trị cho trên 7000 bệnh nhân bị MS (multiple sclerosis), RA và shingles với những kết quả khả quan. Tuy nhiên các phương pháp trị liệu không theo những tiêu chuẩn của FDA, đồng thời việc pha chế Venagen cũng không được FDA kiểm soát nên khi BS Sheppard chết (1980), FDA đã đóng cửa Viện.

              Viprinex hay ancrod là một tác nhân ly giải fibrinogen trích từ nọc độc của rắn Calloselasma rhodostoma (Malaysian pit viper). Viprinex có hoạt tính chống đông máu. Trước đây ancrod được sử dụng tại Đức và Áo dưới tên Arwin (VB Knoll Pharma) nhưng bị tạm thu hồi vào thập niên 1980. Từ tháng giêng 2005 FDA cho phép dùng ancrod trong các thử nghiệm trị tai biến mạch máu não (do cục máu nghẽn tắc gây ngưng cung cấp máu và oxygen cho não). Thuốc hiện nay chưa được FDA cho phép sử dụng.

  Aggrastat (tirofiban).


 
       Đây là một desintregin, có tác dụng ngăn chặn sự kết dinh tiểu cầu. Nọc của rắn African saw-scaled viper đã được dùng để ly trích các proteins này do ở sự sắp xếp thứ tự, tương đối đơn giản, của các peptid trong chuỗi phân tử, đồng thời dễ tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Các nhóm nghiên cứu của Viện Bào chế Merck và ĐH Temple đã cô lập và tổng hợp được echistatin một protein nhỏ trong nọc, có hoạt tính đặc biệt trên sự đông máu. Trong khi tổng hợp echistatin, các nhà khoa học đã xác định được những khu vực chuyên biệt trên phân tử protein có được hoạt tính ngăn các tiểu cầu kết dính lại với nhau và sau 10 năm thử nghiệm đã tìm được một loại thuốc mới: Aggrastat (tirofiban HCl) có khả năng chẹn được một số thụ thể tiểu cầu máu. Thuốc trên thực tế không chứa nọc rắn nhưng là một chất tổng hợp có hoạt động "nhái" theo hoạt động chống đông máu của nọc rắn saw-scaled viper. Thuốc được dùng trị bệnh nhồi máu cơ tim. FDA chấp thuận cho sử dụng từ ngày 14 tháng 5 1998.

 
                         1700682640383blob.jpg
 

 
 
 Integrilin (eftifibatide)

 
          Integrilin là một heptapeptid chống kết dính tiểu cầu thuộc nhóm ức chế glycoprotein IIb/ IIIa, từ nọc rắn Sistrurus miliarus (Southeastern pygmy rattlenake). Integrilin được dùng trong các trường hợp nhồi máu cơ tim, nghẽn tim dưới dạng thuốc chích. Integrilin được sử dụng hầu như trên toàn thế giới kể cả Hoa Kỳ.

 

                                     1700682878483blob.jpg
 

 

           Đặc chế dùng tại nơi khác ngoài Hoa Kỳ.

           Một số đặc chế được dùng tại Âu châu, Trung Hoa, Nhật nhưng không được FDA chấp thuận để dùng tại Hoa Kỳ như:

         - Vipratox (Đức), Viprosalum (Nga) dùng trị thấp khớp, viêm bắp thịt, sưng dây thần kinh, dưới dạng thuốc thoa.


1700683004337blob.jpg

 

1700683133879blob.jpg

 

 
         - Viperalgin (Tiệp), thuốc chích dùng giảm đau trong các trường hợp ung thư.

         - Reptinaza, Venostat, Stiven, Lebetox: Cầm máu.

         - Najatox, kem thoa của Việt Nam, dùng trị đau, chống sưng (kem chứa nọc rắn hổ mang, methyl salicylate, tinh dầu khuynh diệp, camphor..)

         - Fu fang Ke Tong ning, dùng trị đau gồm cobratoxin, ibuprofen và Qu-ma-du =tramadol (?).

Các thuốc đang được thử nghiệm:


           Một số loại thuốc từ nọc rắn đang được thử nghiệm tại Hoa Kỳ:


 Trị ung thư:

         - Marimastat (từ rắn lục), VBC Vernalis.

 
         - Crotoxin (từ rắn chuông), Cardiotoxin (rắn hổ), VBC Celtic Biotech.

 
Trị tai biến mạch máu não:

         - Defibrase (từ cạp nong), VBC PentaPharm.

  Thuốc cầm máu:

         - Haemocoagulase (từ cạp nong) VBC PentaPharm.

   Trị Multiple Sclerosis:

         - Receptin (rắn hổ) VBC ReceptoPharm.

    Trị đau và trị nghiền ma túy:

         - Cobratoxin (từ rắn hổ) được thử nghiệm trị đau do VBC Receptopharm, và trị đau/cai nghiện do Kunming Institute.
 

Trần Minh Quân


 
Tài liệu sử dụng:

- Cây thuốc và Động vật dùng làm thuốc ở Việt Nam (Viện Dược liệu). Tập 2

- Outline Guide to Chinese Herbal Patent Medicines in Pill Form (Margaret Naeser).

- Chinese herbal medicines directory.

- The Medicinal use of Snakes in China (S. Dharmananda).

- Venom Peptides (Science &Medicine, Sept/Oct 1997).

- Snake venom as Therapeutic agents (Sanjoy K Pal).

- Pharmacognostic and Biochemical Properties of Certain Biomarkers in Snake Venom (Baby Joseph)

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính