Trần Minh Quân

 

 

 

Y HỌC MÔI SINH: PHẦN I

NHỮNG CHẤT ĐỘC TRONG MÔI TRƯỜNG SINH SỐNG
                      VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TRÊN SỨC KHỎE

 

Trần Minh Quân

 

                    


 

                      1703604936240blob.jpg

 

 
 
Gánh nặng độc chất trong môi sinh

           Thế kỷ 20, với những triển vọng sẽ đem lại cho nhân loại  "Một đời sống tốt đẹp hơn nhờ ở Hóa học".. đã đem theo một loạt những bệnh tật liên hệ đến những chất độc hóa học, mà chúng ta thường gọi chung là những bệnh tật do ở môi sinh. Những bài viết mới nhất trên các tạp chí Y học đã cho thấy tỷ lệ bệnh ung thư, không liên hệ đến hút thuốc, đã tăng cao nơi những người sinh sau năm 1940 (hơn là trước đó), và sự gia tăng này là do ở những hóa chất độc hại trong môi trường, khác hơn là do ở khói thuốc (JAMA No 271-1994). Những bệnh mới, được chẩn đoán, như Hội chứng bệnh cao ốc và Mẫn cảm với nhiều hóa chất (Multiple chemical sensivity=MCS) ; cả hai được cho là do ở sự tiếp xúc quá mức với những chất gây ô nhiễm môi trường).
 
                        1703605408563blob.jpg
 

 


 
         Tác hại căn bản của nhóm hóa chất trừ sâu và nhóm dung môi là gây rối loạn hoạt động của hệ thần kinh : ngoài ra chúng còn gây tổn hại cho các các hệ miễn nhiễm và nội tiết. Các ảnh hưởng độc hại không chỉ ở những hệ thống trên mà còn gây thương tổn cho da, hệ tiêu-hóa, tiết niệu, hô-hấp, xương-cơ bắp và còn cả những vấn đề về tim mạch..(chemical Sensivity Vol 3-1996).

         Chúng ta sống trong một môi trường quá nhiều hóa chất:

         Hóa chất trong không khí, trong nước, trong thực phẩm.. Từ 1976 Cơ Quan Bảo Vệ Môi Sinh Hoa Kỳ (US Environ mental Protection Agency = EPA) đã thực hiện một cuộc nghiên cứu đặt tên là National Human Adipose Tissue Survey = NHATS. Đây là một chương trình hàng năm, thu thập và phân tích hóa học, những mẫu mô tế bào mỡ trên toàn quốc để tìm những hợp chất độc hại: mục tiêu của chương trình là tìm và định lượng những hợp chất độc hại thường gặp nhất trong sinh hoạt của dân Mỹ.. Các mẫu thử được thu thập từ những xác chết hoặc từ những mẫu phẩu thuật chọn lọc trên toàn quốc.
 

 

                           1703605677837blob.jpg
 

 

 
Adipose tissue in health and disease through the lens of its building blocks
 

 
        Năm 1982, EPA mở rộng cuộc nghiên cứu, tìm sự hiện diện của 54 loại độc chất trong môi sinh.. Kết quả tìm được quả đáng ngại: 5 chất sau đây: OCDD (một loại Dioxin) và 4 dung môi Styrene; 1,4-dichloro benzene; Xylene và Ethylphenol có mặt trong 100% mẫu thử.

        Số lượng hóa chất cũng ở mức báo động. Mức độ OCDD lên đến từ 19-3700ng/g chất mỡ; Styrene 8-350ng/g 1,4-dichlorobenzene 12-500ng/g; Xylene 18-1400ng/g và Ethylphenol 0.4-6350ng/g Chỉ riêng 5 chất này đã cho thấy mỗi người sống tại Mỹ phải chịu lượng độc chất tác hại từ 57.4-6350ng/cho mỗi gram chất béo cơ-thể!

        9 loại hóa chất khác, tìm thấy nơi 91-98% mẫu thử, gồm những chất độc như benzene, toluene, chlorobenzene, ethylbenzene, 1 chất furan, 3 chất dioxin và DDE.

        DDE được tạo thành do ở sự khử chlor một phần từ DDT.. Sự khử chlor này có thể xẩy ra trong cơ thể sau 6 tháng tiếp xúc với DDT. Phản ứng này cũng xẩy ra trong thiên nhiên nhưng các nghiên cứu về t 1/2 của DDT trong môi sinh lại không rõ rệt. Trước đây t 1/2 được cho là 2 năm, nhưng những khám phá mới nhất tại Yakima, Washington cho thấy t 1/2 của DDT có thể kéo dài hàng chục năm tùy trường hợp.. DDT khi phân hủy sẽ thành DDE hay DDD.

        Ngoài ra PCB được tìm thấy trong 83% mẫu thử; Beta-BHC trong 87%.. đưa đến 76% mẫu thử có chứa đến 20 loại hóa chất!.. Như thế 76% người sinh sống tại Mỹ có đến 25704ng độc chất tổng cộng cho mỗi gram chất béo..

        Các nghiên cứu bổ túc cũng đưa đến những kết quả tương tự. Một nghiên cứu của CDC trên 5994 người tuổi từ 12-74 tìm thấy 99.5 % có mức p,p-DDE trong máu cao hơn 1 phần tỷ (1 per billion=ppb), trong khoảng 1-379 ppb. (J. Toxicol Environ Health No 27-1989). Một nghiên cứu nơi các mô mỡ từ xác những người cao-niên tại Texas cho thấy trong 100% mẫu đều có p,p DDE, Dieldrin, Oxychlordane, Heptachlor epoxide, và para BHC(J.Toxicol Environ. Health No 29-1990).. Tại Michigan, khi theo dõi vệ sinh ăn uống nơi những trẻ em 4 tuổi : 70% có DDT, 50% có PCB và 21% có PBB..

        Qua những kết quả nghiên cứu vấn đề rõ ràng là chúng ta đang chịu ảnh hưởng không thể tránh được của các hóa chất độc hại nhưng vấn đề đáng chú ý là những hóa chất này sẽ tác hại trên sức khoẻ đến mức độ nào?

Nguồn gốc những độc chất trong môi sinh:
 
                    1703606243352blob.jpg
 

 

 
         Chúng ta tiếp xúc hàng ngày với những hóa chất độc hại qua không khí trong nhà và ngoài trời, qua thực phẩm và nước!

       Nghiên cứu của EPA đã liệt kê những hóa chất sau đây là những loại.. "nơi nào cũng có": p-xylene, tetrachloroethylene, ethylbenzene, benzene, 1,1,1-trichloroethane và o-xylene.. Những chất "thường có" gồm Chloroform, Carbon tetrachloride, Styrene và p-dichloro benzene (Tài liệu EPA 0589). Nghiên cứu này cũng cho thấy mẫu không khí thu thập bằng máy gắn theo từng cá nhân thử nghiệm trong 24 giờ, chứa nhiều độc tố khi ở trong nhà hơn là khi ở ngoài trời! Ngoài ra không khí tại những trạm xăng, nơi giặt (khô), khi lái xe, hút thuốc.. đều bị ô nhiễm nặng hơn.. và những người làm những công việc như thợ sơn, làm việc tại các xưởng chế tạo hóa chất, chế tạo chất nhựa plastic.. đều tiếp xúc với những môi trường có nồng độ hóa chất độc hại cao hơn..

      Các thử nghiệm tìm các hóa chất còn bám vào các thực-phẩm, được thực hiện thường xuyên trên thế-giới đều tìm ra những chất gây ô nhiễm. Thử nghiệm quan trọng nhất tại Hoa Kỳ là Bản điều tra về Dinh dưỡng toàn bộ (Total Diet Survey) của FDA. Bản điều tra này tuy tìm hiểu về nhiều loại hóa chất tồn đọng, bám vào thực phẩm nhưng kết quả tìm thấy về các chất trừ sâu có chlor thật đáng ngại! (FDA Total Diet Suvey April 1982-April 1986-FDA, Division of Contaminants Chemistry):

DDE được tìm thấy trong:

100%  mẫu nho khô, spinach (tươi và đông lạnh), chili-con-carne, thịt bò.

93% mẫu phó mát Mỹ, Hamburger, Hot dog, Thịt gà, thịt gà tây.

87%  mẫu sườn trừu, salami, spinach đóng hộp, bơ.

81% mẫu phó mát cheddar, xúc xích thịt heo..

        Những thực phẩm chứa nhiều DDE nhất, theo thứ tự giảm dần, như sau:  

        - Spinach (tươi hay đông lạnh) chứa trung bình 0.0234 ppm;

        - Bơ 0.0195 ppm;

        - Rau collard 0.0126 ppm;

        - Xúc xích thịt heo 0.0124 ppm;

        - Sườn trừu 0.0113 ppm.

        Vì DDT và DDE đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ từ 1972 nên có lẽ sự ô nhiễm này là do từ những thực phẩm được nhập cảng vào Hoa Kỳ từ những quốc gia vẫn còn dùng 2 loại hóa chất này?

        Tác động độc hại của những Chất gây ô-nhiểm môi-sinh trên Hệ Miễn Nhiễm:

        Các hóa chất gây ô nhiễm môi sinh có những tác hại khá rộng trên hoạt động của Hệ Miễn nhiễm, đi từ gây suy giảm phảm ứng miễn nhiễn của tế bào ( suy giảm khả năng chống nhiễm bệnh và chống u-bướu) đến gây tăng sự mẫn cảm (dị ứng).

 
        Trong số các hợp chất hữu-cơ có chứa Chlor (Organochlorine compounds=OCCs), DDT đã được xác định là gây những tác hại sau trên Hệ Miễn nhiễm:

 
                               1703606565962blob.jpg
 

 

 
        - Gây suy giảm số tế bào phòng vệ trong huyết tương.

        - Gia tăng sự giảm hạt của các tế bào mast cells.

        - Gây giảm số lượng Bạch huyết cầu.

        - Giảm khả năng thực bào.

        - Gây thay đổi nơi lá lách, thymus, hạch lympho.

        - Gây rối loạn sự điều hòa miễn nhiễm nơi bào thai..

         Các tác hại kể trên cũng được tìm thấy nơi những người tiếp xúc với Chlordanes (dùng tại Hoa Kỳ và Canada làm thuốc trừ mối cho đến 1978, tuy bị cấm dùng trong nhà nhưng vẫn được dùng trên một số cây lương thực và hạt giống..) và Hexachlorobenzene (HCB một chất trừ sâu có chlor để trừ nấm mốc, cũng có trong những dung môi hữu cơ chứa chlor như perchloroethylene dùng trong nghề giặt khô (dry cleaning).

         Các nghiên cứu trên hàng ngàn bệnh nhân tại Environmental Health Center tại Dallas cho thấy những người có OCCs trong máu.. đều bị ngộ độc về Miễn nhiễm (Dallas-1995).

         Các hóa chất tạo ra từ sự đốt cháy các hydrocarbon thơm đa vòng (polycyclic aromatic hydrocarbon= PAH) cũng gây những tác hại trên Hệ Miễn nhiễm như gây suy giảm phản ứng loại tùy thuộc kháng thể của T-cell, giảm hoạt tính của T-cell, ức chế hoạt tính của killer cell.. và cũng còn gây ra ung thư..

         Các thuốc trừ sâu loại phosphate hữu cơ, tuy không cơ cấu hóa học không bền bằng các OCCs nhưng cũng độc hại với hệ miễn nhiễm: gây giảm tỷ lệ các tế bào CD4 và CD5, gây tăng số lượng và tỷ lệ tế bào CD 26, tăng những trường hợp mất sức trương (atopy) và mẫn cảm với kháng sinh, tăng tỷ lệ phản ứng tự gây miễn nhiễm lên cao.

         Phương thức tiếp xúc với thuốc trừ sâu có thể sẽ có ảnh hưởng đến tác dụng lâu dài trên hệ miễn nhiễm: Hai trường hợp đặc biệt ngộ độc ở mức độ lớn, do tiếp xúc với PBB (Polybrominated biphenyl) đã chứng minh vấn đề:

       1- Trường hợp xẩy ra tại Taiwan:

         Ngộ độc khi dùng dầu ăn ép từ cám gạo nhiễm PBB: Dầu được dùng nấu ăn và người ăn bị rối loạn hệ miễn nhiễm: Một năm sau khi ngộ độc, các bệnh nhân vẫn bị suy giảm nồng độ IgM và IgA (tuy IgG vẫn bình thường), nồng độ tế bào T-suppresser xuống thấp, Tế bào B xuống thấp.. Mãi đến 2 năm sau, các chỉ số trên mới trở về bình thường..

       2- Trường hợp xẩy ra tại Michigan (1973-74) thì khác hơn:

         Sản phẩm chữa cháy "Firemaster", có chứa PPB bị bán lầm thành chất dinh dưỡng cho thú vật "Nutrimaste". Sự sai lầm này gây tai hại không những cho thú vật ăn phải mà còn gây tổn thương cho những người ăn thịt thú vật với những rối loạn về miễn nhiễm gây những bệnh ngoài da, tổn thương thần kinh và xương/bắp thịt.. (Environ Health Perpect No 23-1978).

         Sự phát sinh các phản ứng "tự chống lại Hệ miễn nhiễm của bản thân" (autoimmunity) có liên hệ mật thiết với những sự tiếp xúc với các hóa chất.. Nhiều loại hóa chất đã được biết là gây khởi phát những cơn bệnh Lupus erythematosis toàn diện (SLE=Systemic lupus erythematosis).

         Một số hóa chất khác như formaldehyd và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi được cho là gây ra những phản ứng loại autoimmunity nơi các mô tế bào chuyên biệt bằng cách hoạt động như những haptens.. Các phân tử có trọng lượng phân tử thấp này kết dính vào nhiều loại mô tế bào, tạo thành những hỗn hợp sinh kháng thể mới... Hệ miễn nhiễm khi đó sản xuất ra các kháng thể để chống lại những chất trên, và các kháng thể này..cũng tấn công luôn nhưng mô tế bào của cơ thể dù cho các hoá chất lạ có hiện diện hay không..

        Những phản ứng tai hại của hóa chất trừ sâu trên Hệ miễn nhiễm được liệt kê rất chi tiết trong  Pesticides and the Immune System ; The Public Health Risks, do World Resources Institute ở Baltimore ấn hành..

Những bệnh Ung thư do ở Hóa chất gây ô-nhiễm môi sinh:

        Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những nồng độ OCCs cao trong tế bào mỡ của những bệnh nhân ung thư vú (so sánh với những ngưới bình thường) Các hóa chất tìm thấy, với nồng độ cao, nơi người bị ung thư gồm: DDT, DDE, PCBs và Hexachlorocyclohexane (HCH, còn được gọi là lindane, Kwell @ hay BHC thường dùng làm thuốc trị chấy rận..) Nồng độ những hóa chất này không chỉ cao ở trong mô mỡ mà thật ra còn cao hơn ở trong các tế bào ung thư, so với các tế bào lành mạnh ngay bên cạnh. Các nghiên cứu này cũng cho thấy nồng độ OCCs tồn trữ cao nhất tại mô tế bào vú, hơn là tại các mô tế bào mỡ khác.

       Nồng độ OCCs trong máu cũng liên hệ mật thiết đến nguy cơ bị ung thư vú. Nồng độ cao của DDE và PCB trong máu..gây nguy cơ ung thư vú tăng lên gấp 4 lần (Journal of National Cancer Institute No 85-1993).

       Các liên hệ giữa việc tiếp xúc với hóa chất và ung thư nơi trẻ em cũng đã được nghiên cứu (Arch Environ Contam Toxicol No 24-1993): 45 trường hợp ung thư óc nơi trẻ em đã được so sánh với 85 trường hợp đối chứng: Một sự liên hệ khá rõ rệt đã được ghi nhận giữa ung thư óc và sự tiếp xúc với No-Pest Strips, thuốc trừ mối, Kwell Shampoo, dây đeo cổ trừ bọ chó, diazinon dùng trong vườn..

       Một số nghiên cứu đã tìm thấy sự liên quan giữa hóa chất diệt cỏ dại 2,4 D (thường dùng trong vườn) và ung thư mô tế bào mềm loại sarcoma.(Am J Public Health No 85-1995). Ngoài ra cũng có sự liên quan giữa ung thư máu leukemia và các hóa chất trừ sâu.

       Những người trưởng thành tiếp xúc với những hóa chất diệt cỏ dại loại chlorophenoxy như 2-4 D, có thể có nguy cơ bị ung thư phổi, ung thư bao tử, ung thư máu, lymphoma loại Hodgkin, sarcoma nơi mô mềm.

       Hóa chất 2,4 D còn nổi tiếng về tác hại hơn nữa.. khi phối hợp với 2,4,5- T để thành một hợp chất gây nhiều tranh cãi gọi là Tác nhân da cam (Agent Orange). 2,4 D thường được các Chính quyền địa phương, Tiểu bang phun trên đường, góc quanh để trừ cây, cỏ dại. Chất này cũng thường được dùng để chăm sóc vườn cỏ tại tư gia. Dùng 2,4 D lâu ngày có thể bị tăng nguy cơ ung thư lymphoma loại không thuộc dạng Hodgkin..

        Rất nhiều nghiên cứu đã ghi nhận có sự tương quan giữa tiếp xúc với các dung môi hữu cơ và bịnh ung thư máu các dạng myelogenous leukemia, myeloma đa dạng..

        Một nghiên cứu xét lại vể trường hợp của 14,457 công nhân tiếp xúc với trichloroethylen vào thời gian 1952-53 cho thấy có sự gia tăng về tử vong do myeloma và lymphoma không thuộc dạng Hodgkin nơi các nữ công nhân da trắng (British Journal of Industrial Medicine No 48-1991). Trong một nghiên cứu tại Thụy Điển: các nữ công nhân tiếp xúc với 1,1,1 trichloroethylene, có sự gia tăng ung thư cổ tử cung và các tế bào lympho-máu, và tiếp tục theo dõi 10 năm  sau đó thì thấy tỷ lệ ung thư tụy tạng và lymphoma gia tăng.

         Khi theo dõi 20 năm sau đó các trường hợp ung thư myeloma đa dạng và ung thư hệ thần kinh được ghi nhận. Các công nhân tiếp xúc với trichloroethylen (sau 20 năm..) có thể có sự gia tăng tỷ lệ ung thư bao tử, gan, tuyến nhiếp hộ và mô lympho-máu (Journal of Occupational Medicine No 35-1993).

         Báo chí Y-học đã ghi nhận được 280 trường hợp hư hại máu (aplastic anemia) do ở tiếp xúc với thuốc trừ sâu: đa số nạn nhân thuộc lứa tuổi trung bình 34 và thời gian ủ bệnh chỉ khoảng 5 tháng .. Thợ sơn có thể bị nguy cơ ung thư myeloma (tỷ lệ 1.95), ung bướu bàng quang (1.52) cùng các bệnh về thận và đường tiểu (1.45)..(Br J Ind Med No 47-1990)

Vấn đề Độc-hại Thần-kinh:
 
                          1703606790135blob.jpg
 

 

 
        Đa số các thuốc trừ sâu, từ bản chất, đã là các chất gây độc hại thần kinh: những chất này diệt sâu bọ bằng cách tác động vào Hệ thần kinh. Các OCCs ảnh hưởng trên thần kinh bằng cách gây rối loạn sự di chuyển các ion dọc theo thân tế bào thần kinh (axon). Các thuốc trừ sâu loại phosphate hữu cơ, được phát triển từ các nghiên cứu về hơi độc và các carbamate, ảnh hưởng trên phân hóa tố acetylcholinesterase.. đưa đến sự thừa acetylcholine nơi các điểm tiếp nối (synapse) thần kinh.

 
        Các dung môi hữu cơ, một số được dùng lúc ban đu làm thuốc gây mê, gây trở ngại cho sự dẫn truyền luồng thần kinh dọc theo thân tế bào thần kinh. Các chất này gây một số độc hại cho não bộ (cấp tính hoặc kinh niên..)

        Các bệnh về tế bào thần kinh (neuronopathies) có thể lan tỏa hay tập trung vào một điểm, tùy theo loại neuron bị ảnh hưởng hay khi sự hư hại phát triển đến toàn hệ thần kinh. Mục tiêu gây hại của độc chất nhắm vào toàn tế bào thần kinh nên đưa đến hậu quả là sư hư hại có thể ở axon hay ở phần dendritic !

        Một trong những ví dụ điển hình về tác động gây hư hại tế bào thần kinh có tính cách lan rộng là tác hại của methylmercury đã được ghi nhận là gây hại cho các tế bào hạt ở lớp thứ 4 của vỏ não phần điều hành thị giác (visual cortex), các tế bào hạt trong lớp hạt của não bộ và các tế bào thần kinh cảm xúc (sensory neurons) của phần hạch gốc.. Các tác hại này đưa đến một sự thoái biến thần kinh, dẫn đến hoại tử, teo axon và mất myelin.

        Một ví dụ khác là trường hợp của nhôm, đã gây ra tử vong do sưng não phải dùng đến lọc thẩm áp (dialysis encephalopathy), xẩy ra sau từ 3-7 năm lọc thẩm áp không liên tục. Tuy nồng độ nhôm trong óc tăng cao, nhưng không tìm được các nút rối (tangles) chứng tỏ rằng nếu chỉ riêng nhôm thì không đủ gây ra những bệnh chứng lú lẫn kiểu Alzheimer.

        Tác dụng độc hại thần kinh cũng có thể có tính cách chuyên biệt, chỉ ảnh hưởng trên một vài neuron.. Một số các hóa chất độc hại loại này như doxorubicin  (Adriamycin@) chỉ tác động vào phần lưng của gốc hạch (dorsal root ganglia)cisplatin chỉ ảnh hưởng đến neuron cảm giác và manganese gây hội chứng loại Parkinson. Các hư hại do Manganese gây ra tập trung tại sustantia nigra, globus pallidus và caudate nucleus (các điểm trong óc) cùng với sự sụt giảm mức độ dopamine và serotonin. Các triệu chứng khởi đầu bằng các thay đổi về tâm thần, rồi tiếp theo là rối loạn vận động cùng cứng bắp thịt và run tay..

 
       Hội chứng Parkinson cũng gây ra bởi MPTP (1-methyl-4-phenyl-1,2,5,6-tetrahydro pyridine), một ma túy tổng hợp rất nguy hiểm, khi vào cơ thể được chuyển biến tại các tế bào chứa monoamine-oxydase thành MPP+ gây độc hại cho tế bào substantia nigra, ức chế  hoàn toàn sự sản xuất dopamine (Nature No 317-1985).

 

                   1703620395544blob.jpg
 

 

 
Neurotoxin 1-Methyl-4-Phenyl-1,2,3,6-Tetrahydropyridine (MPTP)-Induced Animal Models of Parkinson's Disease .
 

 

 
       Sự khác biệt của các bệnh hư axone thần kinh (axonopathies) là do ở ví trí mà chất độc gây hư hại:

       Các hư hại ở vị trí gần giữa axon (proximal axon) gây rối loạn cho các tiến trình tổng hợp protein: Tiêu biểu cho sự hư hại này hay Proximal axonopathies là hội chứng amyotrophic lateral sclerosis (ALS). Các dung môi hữu cơ như Halomethane, Methy lene chloride, Carbon tetrachlorine và Butane..là những chất thường gây ra ALS.

       Các hư hại ở phần ngoại biên (distal axon), có thể do nhiều loại hóa chất gây ra như Acrylamide (tác nhân polymer hóa dùng trong kỹ nghệ giấy), ảnh hưởng đến các sợi thần kinh cảm giác. Carbon disulfide (một dung môi cho các chất béo, dầu lacque; dùng để ly trích dầu từ olives, dừa..) ảnh hưởng đến các sợi thần kinh cảm giác và vận động. Các dung môi loại hexacarbon gây hư hại một cách tiến triển dần các thần kinh cảm giác: làm sưng phù axon.. và sau đó mất dần myelin.

 
       Các thuốc trừ sâu organophosphate (parathion, malathion, diazinon..) hủy hoại phân hóa tố acetylcholinesterase bằng các phản ứng phosphoryl hóa không nghịch đảo (nếu không dùng ngay một chất kháng độc trong vòng 24 giờ sau khi tiếp xúc).. Nếu tiếp tục tiếp xúc với hóa chất gây độc thì sự độc hại tăng theo lũy tiến và các triệu chứng ngộ độc tiếp diễn cho đến khi cơ thể tổng hợp được thêm acetylcholinesterase.

 

                                     1703618660217blob.jpg
 

 

 

 
Cơ chế ngộ độc Photpho hữu cơ (thuốc trừ sâu)
 

 
       Các sự hư hại về myelin (myelinopathies) thường gây ra bởi nhóm chất "organotins" thường dùng để ổn định hóa các polymers plastic và làm chất xúc tác trong kỹ nghệ silicon và epoxy. Organotins cũng được dùng trong kỹ nghệ gỗ và dệt để bảo tồn chống nấm, diệt trùng và diệt sâu bọ. Các organotins điển hình như TET (Tri Ethylen Tetramine), TMT (Tetra Methyl Thiuram).

       Hexachlorophen (HCP) thường được thêm vào sa-phòng để sát trùng cũng gây hư hại myelin. HCP được hấp thu qua da, và màng nhày, và cũng như TET, TMT có thể gây ra mờ mắt, suy yếu bắp thịt..đưa dần đến tê liệt. Thần kinh thị giác là bộ phận khá mẫn cảm với HCP và các dung môi đặc biệt như uống methanol, ethanol.. ngửi hơi trichloroethylene, toluene, CS2 và benzene.

       Các dung môi khác cũng gây những bệnh về myelin chuyên biệt: Thần kinh trigeminal rất mẫn cảm với trichloroethylene (trong các dung dịch tẩy rửa). Toluene, styrene, xylene và trichloroethylene, gây hư hại myeline của thần kinh vestibulocochlear (tai) nên thường gây lãng, điếc tai..

Tác dụng độc hại trên Hệ nội tiết:

       Các chất độc trong môi sinh cũng gây nhiều tai hại cho Hệ nội tiết, những triệu chứng ngộ độc thường xẩy ra cho Hệ nội tiết gồm:

       Rối loạn về giấc ngủ: Thay đổi tâm tính, năng lực hoạt động..
         
       Thay đổi cân nặng: Mất cảm giác thèm ăn..

       Thay đổi sự ham thích, hứng thú trong việc yêu-đương: Rối loạn kinh nguyệt..

       Cảm giác về nhiệt bị rối loạn: Đổ mồ hôi..

       Rối loạn về tóc: hư hại nơi da.

       Các dung môi hữu cơ, dây thẳng (aliphatic) như n-hexane gây hoại tử loại zona fasciculata và zona reticularis nơi nang thượng thận, nơi chế tạo các glucocorticoids.

       Cadmium và Carbon tetrachloride đều ức chế một cách không chuyên biệt sự sinh tổng hợp steroids.

       Những công nhân làm công việc tiếp xúc với chì, bị suy giảm tiết glucocorticoids (17- hydroxy) và steroids nam tính (17-keto): những người này còn bị thương tổn nơi tuyến hypothalamus và pituitary.

       Dioxins gây ra sự ức chế trực tiếp cơ năng tổng hợp glucocorticoids, đưa đến bệnh tiểu đường.

       Tuyến giáp trạng cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các độc chất trong môi sinh, nhiều hóa chất gây ra sụt giảm T4 và T3. Các chất ảnh hưởng đến Cytochrome P450 nơi gan như phenobarbital, benzodiazepines, hydrocarbon có chlor, biphenyl có nhiều halogen đều gây ra sụt giảm T4. Phenobarbital và PCB (tìm thấy trong 83% mẫu thử, nồng độ lên đến 1,700ng/g), gây ra sự tăng hoạt của UDP-glucuronyl transferase trong gan, đưa đến tăng lưu lượng mật, và bài tiết tyrosine-glucoronide theo mật. Khi cho chuột ăn PCB, nồng độ T4 trong máu giảm, và các tế bào nang giáp tạng phì trướng. Chuột tiếp xúc với mẫu đất bị nhiễm TCDD, PCDD và PCB đều bị sụt giảm T4 trong máu. Sự suy giảm hoạt động của Tuyến giáp trạng cũng tương quan với sự tiếp xúc với chì, carbon disulfide và PBB.

        Ngoài những ảnh hưởng trên chức năng của tuyến giáp trạng, một số hợp chất như hydrocarbon đa vòng, nitrosamines ..có thể gây khởi phát ung thư tuyến giáp trạng. Một hóa chất thông dụng dùng trong thuốc nhuộm tóc 2,4-diaminoanisole sulfate (2,4 DAAS), khi cho chuột thử nghiệm ăn.. gây ung thư tuyến giáp trạng nơi 58% chuột đực, 42 % chuột cái (Arch Environ Health No 48-1993).

        Tác dụng độc hại của các OCCs (hợp chất hữu cơ chứa Chlor) trên chức năng sinh-sản cũng rất đáng ngại: Nồng độ OCCs cao trong máu có thể gây hiếm muộn, vô sinh, hư thai..(Ecotoxicol Environ Saf No 17-1989). Sự tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong môi sinh có thể tạo ra tình trạng số tinh trùng trong tinh khí sụt giảm: tiếp xúc với Dibromochloropropane sẽ bị thiếu tinh trùng và tinh trùng bất thường trong tinh khí đưa đến trạng thái hiếm muộn..(Endocrine Toxicity -Raven Press 1985)

        Nhân loại hiện nay đang phải đương đầu một cách khó khăn với tai họa gây ra bởi quá nhiều hóa chất thải ra từ kỹ nghệ, đưa vào môi trường sinh sống chung quanh.. Với nhiều người thì có thể là những hóa chất phải tiếp xúc khi làm việc nhưng cũng có thể chỉ vì sống tại nơi môi-sinh bị ô nhiễm. Cơ thể chúng ta cũng khác biệt nên có thể có người ít khả năng tống thải chất độc hơn, đưa đến sự tồn đọng độc chất vượt quá sức chịu đựng của cơ thể. Khi lượng chất độc đạt đến một mức độ nào đó, sẽ gây ra sự tổn hại cho cơ thể. Các bộ phận quan trọng nhất bị hư hại là các Hệ miễn-nhiễm, thần-kinh và nội-tiết.

        - Nhiễm độc nơi Hệ miễn nhiễm có thể là yếu tố quan trọng gây những bệnh như Suyễn, Dị ứng, Ung thư và nhiễm siêu vi trùng.

 
       - Nhiễm độc thần kinh có thể đưa đến hư hại trong nhận thức, tâm tính thay đổi và những bệnh kinh niên về thần kinh.. 

 
        - Nhiễm độc nội tiết gây những rối loạn về sinh dục, kinh nguyệt, cảm hứng tình-dục, biến dưỡng...

        Một số biện pháp giúp phòng ngừa cũng như làm giảm thiểu tác hại của các chất độc trong môi trường sẽ được trình bày trong những bài kế tiếp..
                             
                                          
Trần Minh Quân   01/2001 
                                       
                                                                                                                                                                                                                                                                                      
Tài liệu xử dụng:
- Principles of Clinical Toxicology (Gossel& Bricker )
- Alternative Medicine Review (Feb 2000)
- Solvent Neurotoxicity ( Arlien-Soberg)
- Organophosphates, Chemistry, Fate and Effects ( Chambers &Levi )
- Handbook of Toxicologic Pathology ( Haschek & Rousseaux)  

 

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính