Đông dược trước đây thường chỉ hiểu thu gọn trong các Dược học cổ truyền Tàu và Việt Nam (Nam dược), Nhật (Kempo) nay còn có thể bao gồm thêm các Dược học dân gian Ấn , Ayurvedic..
Download
Add to Drive
Save to Photos
Đỉa
và
Đông
dược
1-
Đỉa,
vị
thuốc
của
Nam
dược
Mô tả theo GS Võ văn Chivề Đỉa xanh lục (Hirudo officinalis).
Đỉa xanh lục (Hirudo officinalis)
(Từ điển Động Vật & Khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam, trang 153)
.."Đỉa có cơ thể dẹt, chia đốt, mỗi đốt lại chia nhiều ngấn đốt phía bên ngoài; có 2 giác, giác miệng và giác đuôi để bám lấy vật chủ. Có hàm. Bao cơ, phân hóa thành chùm cơ. Có hệ tuần hoàn tiêu biến và được thay thế bằng thể xoang"
Màu xanh lục nhạt, trên lưng có 6 dải chạy dọc.
Đỉa
phân
bố
khắp
nơi
tại
Việt
Nam,
từ
Nam
chí
Bắc
Theo GS Chi, tại VN có những loài đỉa khác nhau như:
Đỉa nhật (hurido japonica)
Hirudo medicinalis
Đỉa đui (Whitmania laevis)
Đỉa đui (Whitmania laevis)
Đỉa trâu (Hirudinaria manillensis)(GS Đỗ Tất Lợi mô tả, có lưng màu xanh lục, mép màu vàng cam. Những dải trên lưng được thay thế bởi những chấm riêng lẻ hình tròn hay hình vuông, cứ cách 5 đốt lại có một đường. Bụng màu lục vàng nhạt, có đốm hay không đốm, 2 bên có 2 dải không thẳng). Đỉa trưởng thành có thể dài đến 20cm.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Đỉa
trâu
Việt
Nam
Sách
“Cây
thuốc
và
Động
vật
làm
thuốc
ở
Việt
Nam
“ (Viện
Dược
liệu)
trang
1112
có ghi: Đỉa xám (Hirudo medicinalis) ..’.. có thân dẹt, dài 8-12cm, chia nhiều đốt, mỗi đốt lại có những ngấn nhỏ, mặt lưng hơi gồ lên, màu lục nhạt, có 6 dải dọc đều nhau, màu nâu đỏ; mặt bụng có nhiều điểm màu đen sậm và hai dải dọc màu đen nhạt..’
Đỉa xám (Hirudo medicinalis)
Nam
dược
chế
biến
vị
thuốc
như
sau
:
..Sau khi bắt được đỉa về, người ta dùng lửa nhỏ sấy khô hay phơi khô. Khi dùng thái thật nhỏ, sao với cát hay bột hoạt thạch trong chảo đốt nóng, sao cho tới hơi phồng vàng, lấy ra, rây bụi.. sau đó phơi mát cho khô kiệt.
Tính vị theo Nam dược :
‘Thủy
điệt
có
vị
mặn
đắng,
tính
bình,
có
độc..
có
tác
dụng
phá
huyết,
trục
ứ,
thông
kinh.
Các sách thuốc cổ của Nam Dược có chép :
Nam Dược Thần hiệu (Tuệ Tĩnh)
“Thủy điệt - Con đỉa, khi dùng phơi khô, xắt rất nhỏ, sao vàng sậm mà dùng. Vị mặn, tính bình, có độc, phá hòn cục, tiêu tích, trị kinh bế, mụn nhọt, phong lở, lợi tiểu tiện..”
Lĩnh nam bản thảo (Hải thượng Lãn ông)
Thủy
điệt
tục
gọi
là
con
đỉa
/ Vị
mặn,
tính
bình,
lại
độc
thay
Phá
trưng,
tiêu
tích,
nguyệt
kinh
bế /
Nhọt
độc,
phong
lở,
lợi
thủy
hay
Bắt
về
phơi
khô,
thái
cực
nhỏ,
sao
kỹ
cho
thật
vàng
rồi
hãy
dùng
Trong Nam dược, dân gian vẫn dùng đỉa đã chế biến để trị máu ứ, đòn ngã tổn thương, bụng đau có cục, do tích tụ, phụ nữ kinh bế, đau mắt đỏ, có màng mộng.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Vị
Thủy
điệt
(Đỉa
khô
trong
Nam
dược)
2-
Đỉa
trong
Dược
học
cổ
truyền
Trung
Hoa
(TCM),
xưa
và
nay
Trong Dược học cổ truyền Trung Hoa, Vị thuốc Thủy điệt được ghi chép lần đầu, trong Thần Nông Bản thảo kinh (Shen-Nong-Ben-Cao-Jing) đời Đông Hán, xem như một vị thuốc ‘hạ đẳng' và sau đó được chép lại trong nhiều sách cổ như Danh Y Biệt lục (Ming-Yi Bie-Lu (206 BC-8 AD), Ben-Cao-Jing-Ji-Zhu (480-498 BC), Shu-Ban-cao (935-960 AD) Ben-cao-Meng-Quan (1565) và Bản thảo Cương Mục ( Lý thời Trân, Đời Minh, 1590). Thủy Điệt là một vị thuốc quan trọng, trừ huyết ứ, giúp điều hòa kinh nguyệt..
Theo Dược Điển Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (ấn bản 2020), Đỉa được chấp nhận như một vị thuốc chính thức từ 1963. để trị tắt kinh do huyết ứ, trị cục ứ trong bụng dưới, bán thân bất toại và chấn thương..
Một
số
loài
đỉa
được
ghi
trong
Dược
Điển
Tàu
:
Hirudo verbana
Hirudo medicinalis
Hirudo oriental
Hirudo nipponia
Whitmania pigra; W. acranulata..
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Hình
vài
loại
đỉa
trong
Dược
điển
Tàu
Thùy
điệt
được
dùng
phối
hợp
cùng
các
vị
thuốc
Bắc
khác
để
trị
các
bệnh
chứng
gây
ra
do ứ
huyết.
Trong
danh
sách
các
bài
thuốc
cổ
truyền,
có
đến
trên
300
thang
thuốc
có
chứa
thủy
điệt,
dùng
trị
liệu
nhiều
bệnh
chứng..
Vị
thuốc
dùng
dưới
nhiều
dạng
như
thuốc
hoàn,
thuốc
sắc,
thuốc
tán
và
cả
cao
dán..
Dược tính của Thủy điệt theo TCM
TCM xếp Thủy điệt vào hạng mục các thuốc ‘invigorate the Blood' ( Bồi Bổ Huyết).
Dược liệu theo Dược điển Tàu là toàn thân con đỉa phơi khô và tán thành bột.
Thủy điệt tính Bình, (không ảnh hưởng đến quân-bình Âm-Dương của cơ thể).
Tác
động
vào
các
Kinh
Mạch
thuộc
các
Tạng
Bàng
quang
và
Can..
Vài thang thuốc cổ truyền.
Các Thang thuốc lâu đời nhất có vị thủy điệt là Di-Dang Tang (220 AD) và Da Huang Zhe Ching Wan (220 AD) (thang thuốc phối hợp 12 vị).
Thuốc dùng đỉa trong TCM ‘tân tiến" :
TCM ‘tân tiến' dùng đỉa khô tán bột trong một số ‘đặc chế' và dùng tại các bệnh viện trong nước để trị các bệnh nghẽn tim-mạch như:
1- Zhixiong (viên nang) thường dùng tại các Y viện Tàu để trị các bệnh não-mạch (cerebrovascular) cấp tính và kinh niên, do thành phần trong đặc chế có khả năng cải thiện tuần hoàn, giảm đông máu, tác động vào kinh mạch giúp phá ứ..
(Thành phần ngoài Thủy điệt còn có Xuyên Khung (Ligusticum chuanxuong), Đan sâm (Salvia miltiorrhiza) , Leonurus artemisia và Pueraria Lobata).
2- Shenyuandan (viên nang), dùng trị các bệnh liên hệ đến động mạch vành và tức ngực loại angina pectoris.
3- Naoxintong (viên nang) và Tongxinluo (viên nang) dùng trị các chứng bệnh tim-mạch kể cả myocardial infarction, ischemic stroke..
4-
Dahuang
Zhechong (thuốc
hoàn),
là
dạng
‘đặc
chế'
dựa
theo
Thang
thuốc
cổ
của
Tàu,
cũng
dùng
trong
các
bệnh
về
tim
mạch,
giúp
tăng
chức
năng
của
phổi
Dạng thuốc tiêm (chích) dùng Đỉa.
Dược học mới' của Tàu đã nghiên cứu và sử dụng Đỉa dưới dạng ‘trích tinh' (Leech extract). Đỉa được phối hợp với giun đất, trích tinh toàn thân. bào chế thành thuốc tiêm đặc chế chuyên dùng tại các bệnh viện..
Đặc chế Shuxuetong được ghi trong Dược Điển Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc (Ấn bản 2015) và năm 2017, có doanh số lên đến 93 triệu USD.
Công thức nguyên liệu là Trích tinh toàn thân của:
Đỉa Hirudo nipponica Whitman.
Giun đất (Địa long) Pheretima aspergillum.
Địa
long
Đỉa và Giun được rửa sạch và ngâm nhiều lần trong nước pha muối; sau đó nghiền nát và trộn đến thuần nhất, rồi qua nhiều giai đoạn đông lạnh/ xả lại (freeze-thaw) ở nhiệt độ -15°C. Hỗn hợp sau đó được ly tâm, chiết lấy phần dịch nổi bên trên. Dịch này được đưa qua hệ thống siêu lọc (dùng màng giữ lại các phân tử 6000 dalton).. Dịch thu qua lọc được dùng như thành phẩm.
Tỷ lệ giữa đỉa và giun thay đổi; đỉa: 33% - 84%; và giun 16-67%.
Các dạng đặc chế: Thuốc chích: 1-20ml; Dịch tiêm truyền chai 50-200ml và bột làm khô bằng đông lạnh, pha khi chích..
Dựa theo nguyên liệu dùng pha chế, hoạt chất của Shuxuetong được cho là hỗn hợp hirudin và lumbrokinase (?), Đặc chế được dùng rất phổ biến tại các Bệnh viễn Tàu như thuốc chống đông máu và ly giải fibrin trong các trường hợp nghẽn mạch máu não cấp tính, stroke nghẽn mạch khẩn cấp..
Các phân chất mới nhất xác định trong Chế phẩm không có hirudin, và chỉ tìm được nhiều acid amin tự do, peptides, monosaccharides, polysaccharides, nucleic acid và một số hợp chất phức tạp khác. Phương thức trích có lẽ đã làm phân tử hirudin bị ‘phân cắt thành các mảnh peptid nhỏ ? Tuy không xác định được sự hiện diện của hirudin, nhưng Shuxuetong vẫn được Bộ Y Tế Tàu chấp thuận cho sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp tai biến mạch máu não..
Các
thử
nghiệm
trên
thú
vật
cũng
ghi
nhận
‘Shuxuetong’
giúp
cải
thiện
được
các
chấn
thương
thần
kinh
cột
sống
(spinal)
do
tác
động
giúp
tăng
lưu
lượng
máu
về
vùng
cột
sống,
Shuxuetong
làm
tăng
hoạt
động
hình
thành
mạch
máu
(angiogenesis)
trong
giai
đoạn
làm
lành
vết
thương,
trong
trường
hợp
chấn
thương
sọ
não
(khi
thử
trên
chuột).
Xin đọc thêm các bài về Shu-xue-tong:
Beneficial effect of the traditional chinese drug shu-xue-tong on recovery of spinal injury in the rat-PubMed
3- Đỉa trong Dược học Ấn Độ cũng được dùng trong các bệnh tim-mạch.
Theo những chi chép không chính thức,Y dược Ấn Độ và Ayurvedic đã dùng Đỉa để trị bệnh từ hơn 3000 năm trước. Trị bệnh bằng đỉa được gọi là Jalauka-varachana (Jalauka=đỉa); nghĩa là dùng đỉa để hút máu dơ, ra khỏi cơ thể.
(Tiếng Sanskrit : jalaukas = sinh vật trên mặt nước (?) và jalàyukà = sinh vật sống nhờ nước (?) và đỉa là sinh vật .. cần nước !)