Trần Minh Quân

 


ĐỈA, VỊ THUỐC ĐÔNG DƯỢC 

                                                 (THỦY ĐIỆT)

 
                                                            Trần Minh Quân
 
                                              Leech GIFs - Obtenez le meilleur gif sur GIFER
                                                          Dùng đỉa trị bệnh
 

 

Xin mời đọc Phần 1 : "Trị bệnh bằng Đỉa"


 

 

 

    Đông dược trước đây thường chỉ hiểu thu gọn trong các Dược học cổ truyền Tàu và Việt Nam (Nam dược), Nhật (Kempo) nay còn có thể bao gồm thêm các Dược học dân gian Ấn , Ayurvedic..
                            1723582832964blob.jpg

 

                                   Đỉa và Đông dược

 

1- Đỉa, vị thuốc của Nam dược

 

   Mô tả theo GS Võ văn Chi về Đỉa xanh lục (Hirudo officinalis).
                               1723646808329blob.jpg
 
                                 Đỉa xanh lục (Hirudo officinalis)
 

 
          (Từ điển Động Vật & Khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam, trang 153)

 
.."Đỉa có cơ thể dẹt, chia đốt, mỗi đốt lại chia nhiều ngấn đốt phía bên ngoài; có 2 giác, giác miệng và giác đuôi để bám lấy vật chủ. Có hàm. Bao cơ, phân hóa thành chùm cơ. Có hệ tuần hoàn tiêu biến và được thay thế bằng thể xoang"
    Màu xanh lục nhạt, trên lưng có 6 dải chạy dọc.

 

      Đỉa phân bố khắp nơi tại Việt Nam, từ Nam chí Bắc

   Theo GS Chi,  tại VN có những loài đỉa khác nhau như:

 
  • Đỉa nhật (hurido japonica)
                               1723572756548blob.jpg
                                    Hirudo medicinalis

 

 
  • Đỉa đui (Whitmania laevis)

 
                            1723573062308blob.jpg
                            Đỉa đui (Whitmania laevis)
 

 
  • Đỉa trâu (Hirudinaria manillensis) (GS Đỗ Tất Lợi mô tả, có lưng màu xanh lục, mép màu vàng cam. Những dải trên lưng được thay thế bởi những chấm riêng lẻ hình tròn hay hình vuông, cứ cách 5 đốt lại có một đường. Bụng màu lục vàng nhạt, có đốm hay không đốm, 2 bên có 2 dải không thẳng). Đỉa trưởng thành có thể dài đến 20cm.

 
                           1723572382727blob.jpg

 

 

                                  Đỉa trâu Việt Nam

 

   Sách “Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam “ (Viện Dược liệu) trang 1112

có ghi: Đỉa xám (Hirudo medicinalis) ..’.. có thân dẹt, dài 8-12cm, chia nhiều đốt, mỗi đốt lại có những ngấn nhỏ, mặt lưng hơi gồ lên, màu lục nhạt, có 6 dải dọc đều nhau, màu nâu đỏ; mặt bụng có nhiều điểm màu đen sậm và hai dải dọc màu đen nhạt..’

 
                               1723573397338blob.jpg
                       Đỉa xám (Hirudo medicinalis)
 

 

Nam dược chế biến vị thuốc như sau :

..Sau khi bắt được đỉa về, người ta dùng lửa nhỏ sấy khô hay phơi khô. Khi dùng thái thật nhỏ, sao với cát hay bột hoạt thạch trong chảo đốt nóng, sao cho tới hơi phồng vàng, lấy ra, rây bụi.. sau đó phơi mát cho khô kiệt.

 
  • Tính vị theo Nam dược :

 

‘Thủy điệt có vị mặn đắng, tính bình, có độc.. có tác dụng phá huyết, trục ứ, thông kinh.

 

Các sách thuốc cổ của Nam Dược có chép :

 
  • Nam Dược Thần hiệu (Tuệ Tĩnh)
“Thủy điệt - Con đỉa, khi dùng phơi khô, xắt rất nhỏ, sao vàng sậm mà dùng. Vị mặn, tính bình, có độc, phá hòn cục, tiêu tích, trị kinh bế, mụn nhọt, phong l, lợi tiểu tiện..”

 
  • Lĩnh nam bản thảo (Hải thượng Lãn ông)

 

         Thủy điệt tục gọi là con đỉa / Vị mặn, tính bình, lại độc thay

         Phá trưng, tiêu tích, nguyệt kinh bế /  Nhọt độc, phong lở, lợi thủy hay

           Bắt về phơi khô, thái cực nhỏ, sao kỹ cho thật vàng rồi hãy dùng

 

   Trong Nam dược, dân gian vẫn dùng đỉa đã chế biến để trị máu ứ, đòn ngã tổn thương, bụng đau có cục, do tích tụ, phụ nữ kinh bế, đau mắt đỏ, có màng mộng.
                         1723574141834blob.jpg
                        1723574281639blob.jpg

 

               Vị Thủy điệt (Đỉa khô trong Nam dược)

 

2- Đỉa trong Dược học cổ truyền Trung Hoa (TCM), xưa và nay

 

   Trong Dược học cổ truyền Trung Hoa, Vị thuốc Thủy điệt được ghi chép lần đầu, trong Thần Nông Bản thảo kinh (Shen-Nong-Ben-Cao-Jing) đời Đông Hán, xem như một vị thuốc ‘hạ đẳng' và sau đó được chép lại trong nhiều sách cổ như Danh Y Biệt lục (Ming-Yi Bie-Lu (206 BC-8 AD), Ben-Cao-Jing-Ji-Zhu (480-498 BC), Shu-Ban-cao (935-960 AD) Ben-cao-Meng-Quan (1565) và Bản thảo Cương Mục ( Lý thời Trân, Đời Minh, 1590). Thủy Điệt là một vị thuốc quan trọng, trừ huyết ứ, giúp điều hòa kinh nguyệt..

 
   Theo Dược Điển Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (ấn bản 2020), Đỉa được chấp nhận như một vị thuốc chính thức từ 1963. để trị tắt kinh do huyết ứ, trị cục ứ trong bụng dưới, bán thân bất toại và chấn thương..

 

    Một số loài đỉa được ghi trong Dược Điển Tàu :

  • Hirudo verbana
  • Hirudo medicinalis
  • Hirudo oriental
  • Hirudo nipponia
  • Whitmania pigra; W. acranulata..

 
                1723574466861blob.jpg


 

 

      Hình vài loại đỉa trong Dược điển Tàu

 

    Thùy điệt được dùng phối hợp cùng các vị thuốc Bắc khác để trị các bệnh chứng gây ra do ứ huyết. Trong danh sách các bài thuốc cổ truyền, có đến trên 300 thang thuốc có chứa thủy điệt, dùng trị liệu nhiều bệnh chứng.. Vị thuốc dùng dưới nhiều dạng như thuốc hoàn, thuốc sắc, thuốc tán và cả cao dán..

 

  • Dược tính của Thủy điệt theo TCM

 
   TCM xếp Thủy điệt vào hạng mục các thuốc ‘invigorate the Blood' ( Bồi Bổ Huyết).

 
Dược liệu theo Dược điển Tàu là toàn thân con đỉa phơi khô và tán thành bột.

 
  Thủy điệt tính Bình, (không ảnh hưởng đến quân-bình Âm-Dương của cơ thể).

 

  Tác động vào các  Kinh Mạch thuộc các Tạng Bàng quang và  Can..

 

  • Vài thang thuốc cổ truyền.

 
  • Các Thang thuốc lâu đời nhất có vị thủy điệt là Di-Dang Tang  (220 AD) và Da Huang Zhe Ching Wan  (220 AD) (thang thuốc phối hợp 12 vị).

 

 

  • Thuốc dùng đỉa trong TCM ‘tân tiến" :

 
TCM ‘tân tiến' dùng  đỉa khô tán bột trong một số ‘đặc chế' và dùng tại các bệnh viện trong nước  để trị các bệnh nghẽn tim-mạch như:

 
1- Zhixiong (viên nang) thường dùng tại các Y viện Tàu để trị các bệnh não-mạch (cerebrovascular) cấp tính và kinh niên, do thành phần trong đặc chế có khả năng cải thiện tuần hoàn, giảm đông máu, tác động vào kinh mạch giúp phá ứ..

 
  (Thành phần ngoài Thủy điệt còn có Xuyên Khung (Ligusticum chuanxuong), Đan sâm (Salvia miltiorrhiza) , Leonurus artemisia và Pueraria Lobata).

 
2- Shenyuandan (viên nang), dùng trị các bệnh liên hệ đến động mạch vành và tức ngực loại angina pectoris.

 
3- Naoxintong (viên nang) và Tongxinluo (viên nang) dùng trị các chứng bệnh tim-mạch kể cả myocardial infarction, ischemic stroke..

 

4- Dahuang Zhechong (thuốc hoàn), là dạng ‘đặc chế' dựa theo Thang thuốc cổ của Tàu, cũng dùng trong các bệnh về tim mạch, giúp tăng chức năng của phổi

 

  • Dạng thuốc tiêm (chích) dùng Đỉa.

 
   Dược học mới' của Tàu đã nghiên cứu và sử dụng Đỉa dưới dạng ‘trích tinh' (Leech extract). Đỉa được  phối hợp với giun đất, trích tinh toàn thân. bào chế thành thuốc tiêm đặc chế chuyên dùng tại các bệnh viện..

 

 
   Đặc chế Shuxuetong được ghi trong Dược Điển Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc (Ấn bản 2015) và năm 2017, có doanh số lên đến 93 triệu USD.

 
   Công thức nguyên liệu là Trích tinh toàn thân của:

 
  • Đỉa Hirudo nipponica Whitman.

 
  • Giun đất (Địa long)  Pheretima aspergillum.

 
                                            1723581308829blob.jpg
    
 

                              Địa long

    Đỉa và Giun được rửa sạch và ngâm nhiều lần trong nước pha muối; sau đó nghiền nát và trộn đến thuần nhất, rồi qua nhiều giai đoạn đông lạnh/ xả lại (freeze-thaw) ở nhiệt độ -15°C. Hỗn hợp sau đó được ly tâm, chiết lấy phần dịch nổi bên trên. Dịch này được đưa qua hệ thống siêu lọc (dùng màng giữ lại các phân tử 6000 dalton).. Dịch thu qua lọc được dùng như thành phẩm.

 
   Tỷ lệ giữa  đỉa và giun thay đổi;  đỉa: 33% - 84%; và  giun 16-67%.

 
   Các dạng đặc chế: Thuốc chích: 1-20ml;  Dịch tiêm truyền chai 50-200ml và bột làm khô bằng đông lạnh, pha khi chích..

 
    Dựa theo nguyên liệu dùng pha chế, hoạt chất của Shuxuetong được cho là hỗn hợp hirudin và lumbrokinase (?), Đặc chế được dùng rất phổ biến tại các Bệnh viễn Tàu như thuốc chống đông máu và ly giải fibrin trong các trường hợp nghẽn mạch máu não cấp tính, stroke nghẽn mạch khẩn cấp..
 

 
    Các phân chất mới nhất xác định trong Chế phẩm không có hirudin, và chỉ tìm được nhiều acid amin tự do, peptides, monosaccharides, polysaccharides, nucleic acid và một số hợp chất phức tạp khác. Phương thức trích có lẽ đã làm phân tử hirudin bị ‘phân cắt thành các mảnh peptid nhỏ ? Tuy không xác định được sự hiện diện của hirudin, nhưng Shuxuetong vẫn được Bộ Y Tế Tàu chấp thuận cho sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp  tai biến mạch máu não..

 

    Các thử nghiệm trên thú vật cũng ghi nhận ‘Shuxuetong’ giúp cải thiện được các chấn thương thần kinh cột sống (spinal) do tác động giúp tăng lưu lượng máu về vùng cột sống, Shuxuetong làm tăng hoạt động hình thành mạch máu (angiogenesis) trong giai đoạn làm lành vết thương, trong trường hợp chấn thương sọ não (khi thử trên chuột).

 

Xin đọc thêm các bài về Shu-xue-tong:

 
  • Beneficial effect of the traditional chinese drug shu-xue-tong on recovery of spinal injury in the rat-PubMed

https://pubmed.ncbi.hlm.nih.gov/20953395/

 

  • The effect of Shu Xue Tong Treatment of Random Skin Flap Survival

 

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30644800


 
3- Đỉa trong Dược học Ấn Độ cũng được dùng trong các bệnh tim-mạch.
   
 
    Theo những chi chép không chính thức,Y dược Ấn Độ  và Ayurvedic đã dùng Đỉa để trị bệnh từ hơn 3000 năm trước. Trị bệnh bằng đỉa được gọi là Jalauka-varachana (Jalauka=đỉa); nghĩa là  dùng đỉa để hút máu dơ, ra khỏi cơ thể.

 
      (Tiếng Sanskrit : jalaukas = sinh vật trên mặt nước (?) và jalàyukà = sinh vật  sống nhờ nước (?) và đỉa là sinh vật .. cần nước !)

 

Trần Minh Quân

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính