Trần Minh Quân

 

 

 


Hoa  Dă Quỳ

 

                                                                                 Bùi Huyền Trân

 

                  
       
Nhỏ “Chả Quế” coi bộ thích bà Ấu Tím nên trong bài “Một Quăng Xuân Th́", nhỏ đă gắn thêm h́nh hoa dă quỳ Đà lạt.. rồi hỏi Huyền Trân .. biết hoa này hông ? Thôi th́ biết hay không cũng phải viết tặng cô “bồ’ nhỏ bài hoa Dă quỳ này..

   Bà Ấu tím viết “ Dọc hai bên đường đi, những bụi hoa quỳ vàng rực rỡ, thoang thoảng hương ngai ngái, cùng những bụi phù dung cao hơn người, xếp hàng chào đón. Hoa qú giống hoa hướng dương, tôi đă thấy ở saigon, nên không để ư nhiều bằng hoa phù dung..’

  Dă quỳ dễ mọc và phát triển nhanh được xem là biểu tượng cho một sức sống mănh liệt. Hoa tuy dại nhưng có vẻ đẹp nhẹ nhàng dùng tỏ ư thán phục, yêu mến những người có nội tâm phong phú..

  • Dă Qú: Cây hoa

  • Hoa Dă quỳ tại Việt Nam và Thế giới:

   Dă quỳ được người Pháp đưa vào trồng tại các đồn điền cà phê tại Blao (Bảo lộc) và dùng làm phân xanh cho các cây cà phê. Cây cũng được trồng tại Ba V́ vào khoảng năm 1930. Hoa trở thành biểu tượng ‘không chính thức' của Thành phố Đà Lạt, và có ngày Dă Quỳ hàng năm tại Đà Lạt vào cuối tháng10, hoa nở rộ hai bên đường đi và trên các sườn núi như Núi Voi, Lang biang.. tạo thành một cảnh sắc tuyệt đẹp




   Cây được Nitobe Inazo đưa vào Nhật vào cuối thời Minh Trị (Meiji -1867-1912; thời gian trị v́ của Nhà vua Mutsuhito). Tên  Nitobegiku hay ‘cúc’ Nitobe, để vinh danh Nitobe Anaẓ,(1862-1933) một nhà nông học, giáo dục và ngoại giao rất nổi tiếng.

    Một số quốc gia Á châu ‘có vẻ' chuộng Dă quỳ? Thái Lan gọi hoa là buatong, daoruang-yipun, thanawan-nu và Tỉnh Mae Hong Son chọn hoa làm biểu tượng. Mae Hong Son là một Tỉnh phía Bắc Thái Lan giáp biên giới với Myanmar, hàng năm có Lễ hội Dă quỳ trong các tháng 11 và 12  (Bua Tong Blossom Festival), toàn vùng thung lũng Khum yam phủ kín màu vàng của Dă quỳ..
                           
                     Bua Tong Blossom Festival in Thai land

    Dă quỳ, gốc từ Mexico, Honduras, đă lan rộng khắp vùng Trung và Nam Mỹ  và được du nhập khắp các lục địa Phi châu (Kenya, Uganda, Nigeria..) và Á châu (Việt, Thái, Phi, Tàu..), đến 70 quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ (lúc đầu làm cây cảnh..).

   Tại Mexico cây có tên girasolillo, margatita.. Marisol, chilicacate (?), và tại Hoa Kỳ cây  là Shrub sunflower, tree marigold (Puerto Rico: girasol mehicano= tournesol mexicain.

Cây không phổ biến tại Mỹ và loài thường trồng là Tithonia rotundifolia, lá tṛn hơn không thùy, cây nhỏ hơn chỉ cỡ 1m, hoa ngả sang cam-đỏ, thích hợp với các vùng khô, khí hậu nóng, trồng làm hàng rào.

     Tại Âu châu, Dă quỳ ít được chú ư, nhưng đặc biệt là tại Pháp, cây có những tên thật lạ như ‘petite fleur soleil' và lạ hơn nữa là ‘Fleur de la fête des Mères' ! Tên thật lạ v́ trong ngày lễ Hiền mẫu.. không thấy hoa trong danh sách các hoa để tặng các bà Mẹ? Nàng Chả Quế t́m ra là tại Reunion .. hoa nở đẩy ven đường vào tháng Năm, đúng ngày Hiền Mẫu, ‘Tây Reunion gọi luôn tên này và Tây Paris thấy hay.. nên gọi theo ?' Đúng là Mẫu quốc đành theo nước.. con!

   

  • Vài đặc điểm thực vật

Tên khoa học: Tithonia diversifolia họ thực vật Asteraceae.

    Tithonia do tên Thần Hy lạp Tithonus, người yêu của Nữ thần Aurora

Tên Việt: Sơn quỳ; Hướng dương dại.

Tên Tàu: Wang ye kui = Hoàng Dă quỳ ; Zhong binh ju (tên của Flora of China = Thủng Bính Cúc?).

Mô tả: Cây bụi hàng năm sống rất dai, có thể đa niên cao 2-5m; thân mọc thẳng màu xanh đậm, có khi hóa mộc đổi thành nâu - xám; có lông sát, phân cành nhiều. Lá thuôn, có cuống  phiến lá nhẵn dài 2-10cm, màu xanh-xám nhạt, nguyên hoặc phân 3-5 thùy, mép có răng, mọc cách. Hoa dạng hoa cúc, ở đầu ngọn, trên cuống dài 7-30cm, có mùi thơm.. Lá bắc hai hàng cao đến 2cm, hoa ở mép h́nh môi màu vàng tươi hay vàng-cam; hoa ở giữa h́nh ống, giữa hoa có vảy cao 1cm. Quả bế có hai răng trong có nhiều hạt bốn cạnh nhỏ cỡ 4-8 mm, phân tán bởi gió.









Hoa Lá Và Hạt Dă Qú

  Dă quỳ thích hợp với các khu vực cao độ 500 đến 1900m, dễ mọc ven đường, ven sông, mọc thành hàng rào thiên nhiên.. Cây không đ̣i hỏi chăm sóc nhiều, không cần phân bón v́ tự hấp thu chất dinh dưỡng từ đất.

 

  • Dă Qú: Cây thuốc

Cây Dă quỳ hiện chưa được khai thác về phương diện dược học, tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu về khả năng trị bệnh của cây..

  • Thành phần hóa học:

Hoa chứa các hợp chất phenolic bao gồm tannins, flavonoids..chất béo, tinh dầu dễ bay hơi. Tinh dầu của hoa có germacrene D (20.3%), beta-caryophyllene (20.1%), beta - pinene, 1,8-cineole .. (American Journal of Essential Oils and Natural Products 1-2014)

Các nghiên cứu kỹ hơn dùng sắc kư t́m được 45 hợp chất trong tinh dầu (Journal  of Bioresources and Bioproducts Số 1-2016).

Lá  cũng chứa các hợp chất phenolics, flavonoids và c̣n có alkaloids, saponins, quan trọng nhất là tagitinin A. (BMC Complementary and Alternative Medicine Số 18-2018). Tinh dầu trong lá cũng có những hợp chất, như tinh dầu trong hoa.

Chồi thân có saponins, tannins, flavonoids  nhưng không có alkaloids. Về phương diện dinh dưỡng Chồi có chất đạm (9.62%), chất béo (4.21%), chất xơ (15.83%) và carbohy drat (70.35%) (Bulletin of Environment, Pharmacology, and Life Sciences -March 2013)

Toàn cây (phần trên mặt đất) có những sesquiterpenoids và các sesquiterpene lactones quan trọng nhất là các tagitinin A-C,  và tirotundin..

  • Các thử nghiệm trị liệu:

Dă  quỳ đă được thử nghiệm về khả năng trị một số bệnh:

  • Dung dịch trích bằng methanol từ lá khô có tác dụng giúp giảm đau, chống sưng, ngăn phù thũng khi thư trên chuột bị gây phù chân bằng carrageenan và thử bàng test dĩa hơ nóng (Journal of Ethnopharmacology Số 90-2004) Hoạt tính chống sưng là do Chlorogenic acids, và hoạt tính này mạnh hơn Indomethacin.

  • Lá có các sesquiterpene lactone (tagitinin), có tác dụng diệt sâu bọ và kháng vi khuẩn, sát trùng (cả hai nhóm gram + và gram - ) gồm S aureus, E. coli, P. aeruginosa.. nên có thể dùng trị các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da và nhiễm trùng đường tiểu (Research Journal of Medical Sciences Số 4-2010) Tại Phi châu nước sắc dùng làm savon sát trùng khá tốt.

  • Dịch chiết từ lá bằng ethanol 80% có tác dụng làm hạ đường trong máu (thử trên chuột) sau ba tuần uống thử mỗi ngày một lần, hạ mức insulin trong huyết tương, hạ mức glucose trong máu khi thử test dung nạp glucose.. ngoài ra c̣n có thêm các hoạt tính hạ cholesterol tổng cộng, hạ triglycerides, LDL.. tăng HDL. Các hoạt tính này do tác động của dịch chiết trên các tế bào adipose (mô mỡ).

Kết quả cho thấy lá Dă quỳ có triển vọng dùng uống như phương thức phụ trị tiểu đường .(International Journal of Pharmacy & Pharmaceutical Research  Feb 2016).

  • Nước sắc và dịch chiết bằng methanol có tác dụng diệt kư sinh trùng sốt rét (nước sắc 50%, methanol 74%) so sánh với chloroquine (100%), Thuốc công hiệu nhất khi dùng ngay đầu cơn sốt. Tinh dầu khi ṿ nát lá thoa trên da có thể làm muỗi Anopheles gambiae tránh không chích.. Lá ngâm trong nước diệt được lăng quăng cũa muỗi Culex,, (Journal of Medicinal Plants Research Aug 2008).

  • Nghiên cứu tại Việt Nam (nhóm Vũ thị Thu Hằng..) ghi nhận dịch chiết từ lá trị được ghẻ (do scabies) ngứa khi thử trên thỏ. Nước sắc làm từ 300g lá tươi trong 100ml nước, nồng độ cao này cho kết quả so sánh được với Ivermectin.

(Livestock Research for Rural Development Số 24-2012)
 

  • Vài phương thuốc dân gian :

Tại Trung Mỹ : Lá ṿ nát đắp ngoài trị bệnh ngoài da như ung nhọt, vết thương lở loét, rắn hay côn trùng chích. Venezuela trị nhọt lở. Mexico  dùng trị sốt rét, đau nhức bắp thịt..

Tại Phi châu: Nấu lá uống trị táo bón, ăn không tiêu, xúc miệng trị đau cổ họng, Kenya dùng trị sốt rét, trừ nọc rắn..

Taiwan dùng trị tiêu-khát (tiểu đường)

  • Dă Qú .. cây nông nghiệp

Dă quỳ, tuy bị xếp vào cây ‘xâm nhập' (invasive) xâm lấn và ngăn sự mọc của các loài cây khác trong cùng khu vực (Global Invasive Species Database= GISD2008)), nhưng lại rất có giá trị về nông nghiệp, dùng làm phân xanh thay cho các phân tổng hợp tại nhiều quốc gia kém mở mang, do cây rất dễ trồng, thích ứng với các vùng khô cằn.. Các tổ chức Nông Nghiệp Quốc tế như FAO đă có những nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng của Dă quỳ khi dùng trong việc bón cây thực phẩm như bắp, đậu, cà chua, rau cải kale.. Dă quỳ là nguồn cung cấp các dưỡng chất cải thiện đất nông nghiệp: Nitrogen (N), Phosphorus (P) và Potassium (K)

  • Khi dùng làm phân xanh: Dă quỳ, sau khi ủ thành sinh khối (biomass) có thể rải trực tiếp (green manure) vào gốc cây hoa mầu hay chôn dưới gốc.. Phân xanh Tithonia chứa trung b́nh 1.76 % N, 0.82 % P và 3.92 % K , ngoài ra c̣n có Calcium 2% magnesium 0.3 % . Các nghiên cứu cho thấy trộn biomass với các phân tổng hợp cho kết quả rất tốt: khi trộn với phân ‘triple phosphate= TSP, sản lượng hoa màu tăng 220% (so với chỉ dùng phân Urea).

  Một cách dùng phân tithonia khác là tạo ra dạng phân nước (liquid fertilizer): dùng lá và đọt ủ trong bọc với nước theo tỷ lệ ⅓. Phân nước mau ngấm vào rễ hoa màu hơn.

  • Nghiên cứu dùng phân xanh Tithonia trong việc trồng bắp tại Trung Cameroun ghi nhận những kết quả tăng thu hoạch rơ rệt (tăng 43-80 %) khi dùng sinh khối (biomass) tithonia có trộn thêm urea, nhất là trên đất có nhiều cát và đất sét  (Tropicultura số 29-2011 do bà Chả Quế t́m giúp).

  • Khi thử nghiệm dùng phân nước Tithonia trong việc trồng cà rốt tại Indonesia thay cho các loại phân chuồng, các thông số kỹ thuật thu hoạch như trọng lượng, độ lớn .. của củ không đáp ứng tiêu chuẩn nông nghiệp và phân tithonia không thích hợp với loại hoa màu ‘ăn củ' như khoai.. (Journal of Agricultural Technology Vol 11-2015).

  • Tổ chức Quốc tế ECHO Development có rất nhiều nghiên cứu và phúc tŕnh về việc dùng Tithonia làm phân xanh tại Kenya (trồng bắp), Ấn độ (trồng lúa), Ceylon, Cuba, Columbia.. (echocommunity.org).



 Dă quỳ c̣n được dùng làm thức ăn gia súc, nuôi dê, trâu ḅ.. Lá chứa đến 28.5 % đạm.

  Nghiên cứu tại Phi châu, dùng Dă quỳ làm chất độn trộn thêm vào thực phẩm  nuôi ḅ sữa (thay thế cho bă mía 20.8%) không ảnh hưởng đến việc sản xuất sữa của ḅ; phân thải của ḅ cũng không thay đổi về methane (PLOS ONe).

   ECHO  cũng theo dơi các thử nghiệm dùng lá tithonia nuôi trửu và chuột bọ (guinea pig). Có thể xem các kết quả trên ‘Report ICRF'.

   Công nghiệp bột giấy đă thử dùng thân và chồi Tithonia làm nguyên liệu: các thông số kỹ thuật có thể đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết (Runkel ration) như ch́ số dẻo, độ mỏng, độ kéo dăn.. đều thích hợp để làm bột giấy (European Journal of Botany, Plant Sciences and Phytology - June 2018).

   Các nhà khoa học cũng đă t́m được cách chế biến lá và cành Dạ quỳ thành thuốc trừ sâu sinh học: Giă nát và nghiền lá thành khối nhăo.. thêm 5 lít nước cho mỗi 17 kg khối nhăo, tạo được thuốc trừ sâu rất công hiệu cho kale và cà chua. (Dept of Dairy, Food Science and Technology, Egerton University)

 

                                                        Bùi Huyền Trân 1-2021

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính