Hoa Cúc trắng (Bạch cúc)
Bùi
Huyền Trân
“Áo Gia Long, Anh về yêu Cúc
trắng"
(vô danh ?)
Bùi Huyền Trân nhớ đến Nhỏ Gia
Long, ngày vu quy cầm bó hoa Cúc
trắng. thích màu trắng, nhất là
màu hoa Ngọc Lan khi hé nở cùng
hương thơm ngọt ngào, phảng phất
trên đường Tú Xương..
Bài viết tặng Nhỏ cùng nhau
hát khẽ bài.. “Sài Gòn ơi, tôi
mất người trong cuộc đời..’ (Sài
Gòn Vĩnh biệt-Nam Lộc)
Xin cũng gửi tặng các
Công Nương con cháu Vua Gia
Long trong dịp Đại Hội Gia
Long Thế giới kỳ X, dự định
tổ chức tại Paris 2024 ..

Bạch
cúc
Cúc trắng và Văn Hóa:
-
Cúc trắng trong Văn hóa Phật
giáo:
Với Phật giáo Thiền tông Nhật,
Cúc trắng có những giá trị văn
hóa rất cao trọng
-Matsuo Basho (1694),
ông tổ (?) của thơ Haiku
Nhật có những bài thơ Thiền:
1- shiragikono/
meni tatetemiru./ chiri mo
nashi
“
Kìa hoa cúc trắng ngần
Không mảy may
hạt bụi
Nở ngay
trước mặt tiền”
(In the eye of a white
chrysanthemum; there is not
a speck of dust)
Shiragiku là..
sống, hiện hữu.. không bụi
trần vướng mắc nơi tâm!..
2- kiku
no ato / daikon no hoka /
sarani nashi
(after
chrysanthemums/ beyond are white
radishes - Nothing!)
sau khi cúc tàn..
không còn gì ngoài củ cải
trắng - Vô thường!
-Oshima
Ryota (1718-87)
“ they spoke no words / the
visitor, the host / and the
white chrysanthemum”
Phật
giáo Việt Nam có
Thiền Sư Huyền Quang
(1254-1334),Vị TỔ thứ Ba của
Thiền Phái Trúc Lâm xem Cúc
như một chủ đề chính trong
nhiều bài thơ thiền. Ông có
một chùm thơ về Cúc và đánh
số các bài thơ từ “Cúc hoa
kì nhất' đến Cúc hoa kỳ
lục..
Các bài thơ Cúc của Ông đều
phảng phất tính Thiền..
“ Bách hoa khai thì nhĩ
vị khai / Bách hoa lạc tận nhị
phương lai..”
(Khi trăm hoa nở thì ngươi
chưa nở / Khi trăm hoa rụng, mới
thấy ngươi ra.)
Cúc luôn ẩn mình, không
khoe khoang, tranh đua.. chỉ
xuất hiện sau cùng..
Thiền sư Huyền Quang nhận ra Hoa
Cúc như một người biết nhẫn nhịn
cam chịu .. vì người đời không
thể hiểu mình (kham tiều bất
minh)
-
Cúc trắng trong Văn hóa thế
giới
Hoa Cúc được chấp nhận chung như
biểu tượng cho Thọ
(longevity sống lâu), Chung
thùy (fidelity) và Lạc
quan (optimism). Mỗi
màu hoa còn có thể có thêm ý
nghĩa riêng.
Cúc trắng là hoa của loyalty (trung
thành) và honesty (trung thực,
thành thực) và
còn kèm theo tinh khiết
(purity), ngây thơ (innocence)
và hướng thượng (spirituality).
Với những ý nghĩa này, Cúc trắng
được ghép thêm vào những bó hoa
cùng với nhiều hoa khác, làm quà
tặng cho nhau trong nhiều dịp lễ
hội, họp mặt..
- Nhật: hoa Cúc, gọi
là Kiku
Cúc
theo các tu sĩ Phật giáo đến
Nhật vào khoảng năm 400 Tây
lịch
Hoa
Cúc (các loài ) có một vị
trí đặc biệt trong Văn Hóa
Nhật. Khi hoa được giới
thiệu với Triều Đình Nhật,
hoa được trân quý đến trở
thành ‘dấu ấn' của triều
đình và ngai vua. Bạch cúc
cũng được chọn làm một biểu
tượng riêng..
Ấn dấu (Seal) của Hoàng
gia Nhật là hình ảnh của một
đóa hoa cúc có 16 cánh dùng
trong các văn bản quốc gia.
Nhật chọn ngày 9
tháng 9 là
Ngày Quốc gia về Hoa Cúc và
Huy chương cao quý nhất mà
một Công dân Nhật có thể
được Hoàng đế Nhật ban
thưởng là ‘Supreme Order of
the Chrysanthemum’
-Trung
Hoa:
Cúc là một trong 4 loài
hoa ‘Tứ Quý (Mai, Lan, Cúc,
Trúc) và Hoa biểu tượng cho
Mùa Thu, được ca ngợi trong
thi văn và vẽ trong rất
nhiều bức danh họa..
Người Trung Hoa dùng Cúc
tặng người cao niên như lời chúc
thọ và may mắn
- Âu
châu:
Một số quốc gia Âu châu
như Pháp, Ý và Belgique dành
hoa Cúc (gồm cả Bạch Cúc) để
tưởng niệm người đã khuất;
chưng trong trong các tang
lễ và đặt tại nơi an nghỉ.
Tại Pháp, hoa
dược xem như Hoa của Ngày Toussaint 1
tháng 11. Người Anh tặng
nhau hoa Cúc như bày tỏ tình
bạn bè và chúc sức khỏe. Tại
Úc, Cúc được xem như hoa của
Ngày Lễ Mẹ (Mother's Day) vì
tên ‘riêng' của cúc là ‘mums'
- Mỹ:
Thành phố Chicago chọn
Hoa cúc (không phân biệt màu)
làm hoa biểu tượng
Người Mỹ xem, Cúc như Vương hậu
của các loài Hoa nở vào mùa Thu
(The Queen of Fall Flowers) và
Cúc là Hoa của Hạnh phúc “Happiness'
-
Bạch cúc trong văn thơ, thi
họa
Cúc trắng là nguồn cảm hứng
của nhiều Thi sĩ Việt, xin tạm
ghi vài bài
" Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn
tường /Không dám sờ tay sợ lấm
hương
Xiêm áo đêm nay chỉnh tề quá
/ Muốn ôm hồn cúc ở trong sương
“
(Hàn
Mạc Tử - Hồn Cúc)
“.. Em
là Cúc trắng thơ ngây / tinh
khôi trong sáng ngất ngây bao
chàng..”
(Trương Túy Anh -Ý nghĩa hoa
Cúc)
“ Ngàn năm thu mãi rong chơi
/ cho hoa Cúc trắng một đời ước
mong
Áo dài thiếu nữ đường cong
/ Tinh khôi thuần khiết cho lòng
xuyến xao..”
(Đỗ
Hương - Mùa Thu và Hoa Cúc)
“ Em xinh xinh như loài hoa
cúc trắng / Hương dịu dàng tỏa
thơm ngát lòng anh
Gót tung tăng mỗi khi chiều
tan học..
(Nguyên
Đỗ - Thương mãi mùa Thu)
Và còn rất nhiều bài thơ của các
Thi nhân Việt ca ngợi Cúc
trắng..
Rất nhiều tác phẩm hội họa
của những Họa sĩ nổi tiếng
vẽ Cúc, Cúc trắng xen lẫn
với cúc đủ màu (như Renoir,
Van Gogh..) và đặc biệt là
vẽ riêng Cúc trắng (Danh họa
Nhật và Trung Hoa)
Xin mời thưởng ngoạn
vài bức họa nổi tiếng
-
Pierre-Auguste Renoir: Chrysanthemums
(trưng
bày tại Art Institute Chicago);
Vase of Chrysanthemums (tại
Musée des Beaux Arts, Rouen
Pháp)..

Chrysanthemums
(Art
Institute Chicago)

Vase
of Chrysanthemums -
Musée des Beaux
Arts, Rouen
-
Vincent Van Gogh Chrysanthemums
And Wild Flowers in a Vase

Chrysanthemums
And Wild Flowers in a
Vase
-
Wu Changshuo (Đời
Minh) với tranh Bạch cúc,
kèm bài thơ vịnh hoa Cúc của
Tao Yuanming (365-427)

Wu
Changshuo - Bạch
cúc
-
Kawarazaki Shodo với
Bạch cúc
Kawarazaki
Shodo - Bạch cúc
Nhóm hoa Cúc thuộc gia
đình thực vật Asteraceae, là
nhóm hoa được chú ý và được
ghi chép nhiều trong sách
vở cây cỏ, chỉ kém nhóm hoa
Hồng..
Chi chrysanthemum là một
chi thực vật đa dạng, tùy
cách phân loại của các nhà
thực vật, có thể từ 5 đến
200 chủng (!)và nếu tính cả
những cultivars thi lên đến
20 ngàn loài.
Cúc đã được trồng tại Tàu
cách đây ít nhất là 3000
năm. Hoa Cúc có rất nhiều
loại, khác nhau về màu sắc
và hình dáng.. Hai loài
thường gặp nhất là Cúc vàng
và Cúc trắng.. Cúc trắng hay
Bạch cúc, cánh hoa màu trắng
sữa, dài và mềm mại, còn Cúc
vàng hay Kim cúc, cánh hoa
to, màu vàng rực rỡ. Ngoài
ra còn có nhiều loài Cúc
khác như Cúc hoàng kim, Cúc
đại đóa.. Cúc chùy, Cúc vạn
thọ, Cúc bất tử
(Immortelle), Cúc Marguerite
và thậm chí còn có Cúc hôi..
và Rau cải Cúc.. Trong phạm
vi bài này, BHT xin chỉ bàn
về Bạch cúc.
(BHT đã viết “Immortelle, Cây
hoa của Tình yêu bất tận" và
bài ‘Hoa cúc Marguerite..)
Tên khoa học : Chrysanthemum
morifolium (C.sinense)
Từ 1961, cây được xếp vào
chi Dendranthema, và có tên
là Dendranthema
morifolium=D. Grandiflora;
tuy nhiên tên cũ vẫn được
dùng phổ biến trong các sách
về thực vật và dược học
(Flora of China dùng tên
Dendranthema)
Các tên thông thường: Mums,
Florist's Chrysanthemum
(Tên chrysanthemum được
Linnaeus đặt cho cây vào 1753;
và C. morifolium là do nhà thực
vật Albin Joseph De Ramatuelle
đặt vào 1792. Chrysanthemum gồm
Chrysos=vàng; anthos=hoa; được
dùng vì màu vàng thường gặp của
hoa)
Mô tả sơ lược : Cây
thuộc loại thân thảo, cao
60-90cm, có thể hằng niên
hay đa niên, gân hóa mộc.
Thân nhẵn, có rãnh, mọc
thẳng đứng, phân chia thành
bụi mang lá xếp thưa. Lá
thuôn, hình ngọn giáo hay
bầu dục; dày, mặt dưới có
lông và nhạt hơn mặt trên;
phiến lá có mép khía răng và
chia ra 3-5 thùy, gốc lá có
tai..
Hoa mọc thành cụm tròn
lớn; lá bắc bao bên ngoài
phủ lông trắng, các lá bắc
bên trong hình thuôn.
Tại đầu hoa (lớn chừng 1.5
- 5cm), có 1-2 dẫy hoa vòng
ngoài có cánh môi màu trắng,
các hoa ở giữa hình ống màu
phớt vàng. Hoa nở quanh năm
kể cả mùa Đông..
Quả thuộc loại bế quả
hình trái xoan.

Quả Bạch
cúc
Bạch cúc được các nhà vườn
biến đổi, lai tạo rất nhiều
(đều từ chủng gốc có hoa
trắng, thành các chủng có
nhiều màu khác nhau!) Rất
nhiều chủng trồng
(cultivars) đã được ‘đăng ký'
và các nhà vườn đã chia
thành 13 nhóm khác nhau.
Hình dáng của hoa trở
thành đa dạng: đơn, kép,
cong úp (spoon), chùy
(pompom)..
Belgique, tuy chỉ trồng
400ha Cúc, nhưng đã cung cấp
trên 50% hoa cho Thị trường
chung Âu châu. Riêng Vùng
Flanders đã sản xuất khoáng
11.5 triệu bông hoa mỗi năm.
Belgique còn là một Trung
tâm lai tạo và cải biến rất
nhiều chủng Cúc, chiếm đến
90% các chủng tại Âu châu!

Nơi trồng
hoa chrysanthème ở Bỉ
Vài cultivars nổi tiếng:
-
Ja Dank (Chrysanthemum
Jadank) được xem là chủng
trồng cho hoa màu trắng đẹp
nhất. Hoa thuộc loại
‘intermediate incurve', cây
cao 120cm; Hoa to, cánh hoa
cong về trước.. Cắm bình rất
thích hợp.

Chrysanthemum
Jadank
-
Billy Bell hoa
trắng khá lớn, đường kính
25cm; cây mọc cao 120cm, nở
trễ (giữa tháng 9-10)

Billy
bell chrysanthemum
-
Dorridge Crystal, hoa
to màu kem nhạt gần như
trắng, cánh hoa loại
‘reflexed bloom'
Dorridge
Crystal chrysanthemum
Thành phần hóa học:
Hoa cúc trắng có chứa các tinh
dầu dễ
bốc hơi gồm camphor,
carvone.. borneol,
chrysanthenone; alkaloid như
stachydrine; hợp chất alcohol loại
triterpen như heliaol,
lupeol, taraxerol; flavonoids như
luteolin, comosoin, apigenin; acid
amin như
choline, adenin ; nhiều vitamins..
B1, E..
Nghiên
cứu về hoạt chất và khả năng
trị bệnh: Đa
số các nghiên cứu được thực
hiện tại Nhật và Trung Hoa.
-
Khả năng kháng sinh: hoạt
tính này do các triterpenoid
trong lá và hoa; nước sắc từ
lá ngăn chặn được sự tăng
trưởng của các vi khuẩn như
Staphylococcus
aureus,Streptococcus….
-
Khả năng chống viêm: Nước
chiết từ hoa cúc trắng, lấy
phần tan trong hexane và
phần tan trong chất béo, sau
khi tinh khiết hóa, trích
được nhiều esters acid (30
chất), nhiều diol, triol
loai triterpen có tác dụng
chống viêm
(anti-inflammatory) khi thử
trên chuột..
-
Hoạt tính trên tế bào ung
thư (thứ trong ống nghiệm):
Hoa cúc trắng có các diol,
triol loại pentacyclic
terpene (15 chất) gồm 6
thuộc nhóm taraxastane, 5
olenanes và 2 ursanes. Các
hỗn hợp phức tạp này có thể
ngăn sự kích khởi hoạt động
của các sinh kháng thể siêu
vi Epstein Barr (EB-EA)
2- Đông Dược
Dược học cổ truyền Tàu và
Nhật dùng Bạch cúc làm thuốc
từ lâu đời.
-
Với Dược học Tàu,
Cúc trắng có tên là ju-hua. Vị
thuốc “Cúc hoa' được ghi
chép trong “Thần nông Bản
thảo kinh"; và vị “Cúc diệp'
(lá) ghi trong “Danh Y Biệt
lục” (của Đào Hoảng Cảnh,
khoảng năm 500 Tây lịch). Lý
Thời Trân, trong “Bản thảo
Cương mục” chia Cúc hoa
thành nhiều loại và trị bệnh
khác nhau..
Dược học cổ truyền Tàu dùng
Bạch cúc để giúp trị các
bệnh về mắt (minh mục), trị
nóng sốt (thanh nhiệt), nhức
đầu (chỉ thống) và thanh lọc
máu huyết.
Vị thuốc Hoàng
cúc, không phải là Cúc hoa
vàng (Kim Cúc) nhưng
là hoa Cúc trắng, rang qua
lửa nhỏ (?)
Bộ Y Tế Trung Cộng chính
thức cho phép dùng Cúc trắng
để trị bệnh tiểu đường, trị
ung thư tuyến tiền liệt (Đặc
chế dùng tại các bệnh viện
Tàu PC-SPES phố
hợp Cúc trắng cùng 6 dược
thảo khác)
-
Dược học Nhật (Kampo)
dùng Cúc trắng trong các toa
thuốc kéo dài tuổi thọ..
3-
Trà hoa Cúc (trắng) Thé de
chrysanthème

Trà
hoa Cúc (trắng) Thé de
chrysanthème
Trà Cúc rất được ưa chuộng
tại Tàu (Júhùa chá) là loại
nước ngâm (infusion) hoa cúc
phơi khô.. Tại Tàu có đến 37
cultivars Cúc được pha trộn.
Trà cúc Hàn
quốc có
thể pha trộn nhiều giống cúc,
ngoài Bạch cúc (C.
morifolium) còn có M.
zawadskii subp. latilobum (gujeolcho
cha) và cà Cúc dại.
Cách pha chế chung là Hoa khô
được ngâm trong nước nóng 75 độ
C, trong 4 phút.. Trà Cúc cần
uống nóng, được xem thuộc loại
Nước uống có tính Âm dùng trị
các chứng bệnh về mắt, trị nhức
đầu và ‘Phong Nhiệt'.
-
Cúc trắng trong Hương liệu
và Mỹ phẩm
Mùi hương của Cúc được
xếp vào loại hương của hoa,
ngọt ngào kèm một nốt nhẹ
của bạc hà.. Mùi hương có
thể thay đổi khá tế nhị tùy
theo chủng, tuy có thể kèm
theo vị đắng nhẹ..
Vài nhãn hiệu Mỹ phẩm, Nước
hoa dùng note
‘chủ' từ chrysanthemum:
-
Ester Lauder: ‘Private
Collection
-
Nina Ricci: L' Air du Temps
Hai nhãn hiệu đặc biệt hơn:
-
Demeter Fragrance: Chrysanthemum (2011)
Nước hoa dành cho phụ nữ
với hương đậm đà của hoa,
thoảng lẫn mùi cỏ dại.

Demeter
Fragrance: Chrysanthemum
(2011)
-
Serge Lutens; de Profundis
-
Tinh dầu Cúc nguyên trạng:
Tinh dầu chứa đến trên 190
hợp chất dễ bay hợi, mùi
hương được tạo ra bởi các
monoterpenoids (65-90% trong
tinh dầu), các chất chính
gồm camphor, alpha pinene,
chrysanthenone, safranal,
myrcene..
Khoa Aromatherapy, dùng tinh dầu
nguyên chất trị một số trường
hợp bệnh lý
(ghi
trong bảng đính kèm)
Bùi Huyền Trân 8/2023