|
|
MÓN ĂN ĐỘC
ĐÁO: MẮM RUỐC
(Phần
2 của bài .. Ruốc)
Trần Minh Quân
Phần này xin trình
bày về Mắm Ruốc tại
Việt Nam và vài quốc
gia Đông Nam Á. đồng
thời xin chú trọng
nhiều hơn về các
khía cạnh ‘vi sinh'
trong quy trình chế
tạo Mắm
Tại Việt Nam và
một số quốc gia Á
châu như Thái Lan,
Nam Hàn, Ấn độ, Phi,
Mã Lai.. Ruốc là một
nguồn thực phẩm rẻ
tiền và quan trọng
cung cấp chất đạm
cho người nghèo;
ngoài khả năng tiêu
thụ tại chỗ dưới
dạng tươi sống, ruốc
còn được phơi, sấy
khô để chuyên chở đi
xa và chế biến thành
nước mắm, mắm để tồn
trữ được lâu..
Riêng tại Việt
Nam, có những tên
ghép, phụ để giúp
phân biệt rõ hơn các
loại nguyên liệu
dùng làm mắm như mắm
tôm, mắm tép, mắm
ruốc..Tên gọi chung
tại Á châu chỉ là shrimp
paste và
người tiêu thụ chỉ
biết là ‘mắm ruốc'
khi công thức trên
nhãn ghi thêm là làm
từ acetes..
Mắm ruốc tại Việt Nam
Ruốc, hầu như có mặt
suốt dọc bờ biển
Việt Nam, nên có rất
nhiều địa phương
vùng ven biển nổi
tiếng trong việc chế
tạo Mắm ruốc:
Theo Tác giả
Trần Kiêm Đoàn: (mắm) “Ruốc,
chính gốc Huế màu
nâu tím, sền sệt, vị
ngọt hải sản thiên
nhiên và nặng mùi
nước mắm, gọi là ruốc
biển;
Ruốc nhập (?) từ các
nơi khác vào, khô,
ít nhuyễn hơn, kém
vị ngọt hơn gọi là ruốc
xái hay ruốc
ký lô (?). Tại
Huế có quảng cáo
loại “Mắm ruốc Bà
Mảng", tự nhận là
‘mắm ruốc chính tông
Huế?
.png)
Tác giả
Nguyễn Ngạch
trong “Món
ngon Quảng
Nam" tuy ghi
“Người
Quảng là một
tay khét
tiếng về ăn
mắm" và
có câu thơ
“Mắm" :
“ chiều
chiều ra
đứng ngõ sau..
thấy Em
kho mắm,
luộc rau Anh
thèm..”
lại chỉ
nhắc sơ
qua.. về
mắm Ruốc
!. Trên
thực tế,
hiện nay
tại Hải
Châu và
Sơn Chà
có trên
50 cơ sở
sản xuất
mắm ruốc
“Quảng"
.png)
Mắm
ruốc "Quảng"
Theo Diễn đàn Hướng dẫn viên Du lịch VN thì : “Mắm ruốc Phú Hải (Phan Thiết) luôn luôn có màu đỏ hồng tự nhiên, khô ráo, thơm nồng vì con ruốc tại đây nằm ở gành đá và bãi cát sạch, không lẫn tạp chất, được chế biến rất kỹ và rất khéo “..Mắm ruốc nhạt “dùng chày vồ và cối đá để ‘quết' thật nhuyễn..” và Mắm ruốc mặn thì chế biến ít công phu hơn (?). Các tên gọi : nhạt và mặn lại không liên hệ đến nồng độ muối trong “mắm" nhưng lại là.. kỹ thuật làm mắm.
.png)
Mắm ruốc Phú Hải (Phan Thiết)
Vùng biển Hậu Lộc Thanh Hóa có nhiều ruốc Acetes japonicus (Xem bài 1) và mắm ruốc tại đây được ‘đánh giá' là có hương vị riêng, được xuất khẩu qua Pháp và các nước Đông Âu (Nga, Tiệp..) Sản phẩm được ghi nhãn là “Hau loc shrimp paste".
Tại Thanh Hóa, ruốc được gọi là moi. Vùng biển từ Lạch Trường đến Lạch Sung : moi sinh trưởng trong vùng nước lợ có độ mặn 22-28%, nhiều dưỡng chất, nên phát triển nhanh; vỏ mỏng và thịt chắc giúp tạo hương vị đặc biệt cho mắm..Mắm Ruốc Hậu Lộc màu nâu-hồng, mùi thơm ruốc không tanh và vị ngọt dịu.
.png)
Khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu có con sông Long Sơn, nước lợ là nơi sinh sống thích hợp của loài ruốc. Trước 1975 nghề làm mắm ruốc tại đây rất phát đạt với các thương hiệu nổi tiếng như Mắm ruốc Bà Giáo Thảo, bà Bộ châu, Ba số không (000).. Mắm được tiêu dùng tại Sài Gòn và các Tỉnh miền Tây Nam Bộ..
Tại Thành phố Vũng Tàu hiện vẫn còn Xóm Mắm Ruốc (tại Hẻm Nguyễn Trường Tộ) vẫn còn các cơ sở sản xuất.. gia truyền..
Theo các nhà làm mắm tại đây thì ‘phẩm chất của mắm ruốc ‘không ổn định vì con ruốc dễ bị ảnh hưởng khi thay đổi thời tiết và môi trường sống. “Con ruốc mới đánh bắt lên còn tanh nên sẽ được ướp muối theo tỷ lệ riêng (tùy kinh nghiệm và bí quyết của người làm mắm); Sau đó vắt nước và đem phơi khô dưới nắng.. Tiếp đó xay nhuyễn và chuyển vào các hồ ủ (trước đây khi chưa có máy xay, phải dùng cối giã, vất vả và mất nhiều thời gian). Thời gian ủ, tùy nhà sản xuất, có thể 6-8 tháng; và sau đó xay lại, thêm gia vị..”
Mắm ruốc Vũng Tàu-Bà Rịa được Sách Kỷ lục Việt Nam xếp vào hạng “Top 10 Đặc sản Nước chấm và gia vị".
.png)
Gò công nổi tiếng với nhiều loại mắm như mắm còng, mắm tôm chà và Mắm Ruốc cũng không phải là ngoại lệ (!). Bí quyết Mắm Ruốc Gò công ‘ngon' được giải thích là do “Ruốc tươi, lựa kỹ, rửa sạch, phơi ráo bằng sàng tre', thêm vào một yếu tố 'Trời cho" là “Nắng" và một bí quyết là.."ruốc sau khi rửa sạch..cho ‘uống' chút rượu đế" rồi mới trộn muối và phơi “nắng Gò công" !
Tại một số quốc gia Á châu: tôm, tép và ruốc cũng dùng làm thành một dạng bánh nhão trộn muối (paste), tương tự như mắm tại Việt Nam. Gọi tên chung là shrimp paste
-
Mã Lai: Belacan shrimp paste là mắm ‘ruốc' địa phương vì làm từ các ruốc Acetes japonicus, Acetes indicus và Acetes. erythreus đánh bắt trong vùng biển địa phương. Belacan chứa khoảng 27% nước, gần 30% chất đạm. Phải cần 3.7 kg ruốc tươi để làm được 1kg belacan. Mã sản xuất mỗi năm khoảng 4-5 ngàn tấn và xuất cảng sang Singapore, Thái.. Belacan được bán với dạng bột khô đóng thành bánh. ’Sambal belacan’ là mắm belacan trộn sẵn với ớt.
Thành phẩm còn độ ẩm khoảng 36-49% ; độ muối 19-24% và có trên 24% chất đạm. Mắm Thái cũng nặng mùi và dùng trong một món ăn như nấu canh chua “tom yum’, thêm vào cà-ri (green curry) Thái, gỏi đu đủ Thái..
Thái lan phân biệt Jaloo là mắm làm từ krill = Mesopodopsis orientalis (tép biển nhỏ khác với loài acetes), đánh bắt tại các vùng rừng ngập mặn Nam Thái Lan.
.png)
-
Philippines: Mắm làm từ cá, tôm tép gọi chung là Bagoong. Riêng mắm ruốc có tên Alamang bagoong làm từ con ruốc acetes sibogae. Các nghiên cứu ghi nhận mắm ruốc Phi, so sánh với các loại mắm ruốc Mã Lai, Thái, Indonesia và cả Việt Nam.. lại chứa lượng acid béo Omega-3 cao nhất (?)
.png)
.png)
Hàn quốc có mắm Saeujeot làm từ ruốc acetes chinensis rất nhiều trong vùng biển Hàn-Nhật..Saeu, tiếng Hàn là tôm, tép ; jeot-saeu (đảo chỗ lại) thành ra có nghĩa là.. con tép biển nhỏ hay ruốc.. Saeu-jeot được dùng pha trộn trong các món kim chi và tương (paste) chấm.
.png)
Dưới đây là phương pháp "chung" chế tạo các loại Mắm từ Tôm, tép và Ruốc.
Áp dụng cho Mắm Ruốc (làm từ các loại acetes):
Trên căn bản đều là ruốc acetes trộn muối theo những tỷ lệ khác nhau, tùy địa phương sản xuất (tùy quốc gia). Mắm khi thành hình, có thể được pha trộn các ‘phụ gia’ để tạo thêm vị và màu sắc.
Các giai đoạn chế biến có thể gồm:
-
Trộn ruốc với muối trên những dụng cụ như giỏ, xửng, thúng (đan bằng tre) theo tỷ lệ 6-10 kg muối cho 100kg ruốc: tạo thành hỗn họp ‘ruốc ướp muối' (việc chọn muối cũng là một yếu tố tạo mùi vị cho mắm).
-
Ruốc nghiền nhỏ sau đó được nén chặt trong các thùng, vại, chum chứa; nén thật chặt để ‘không' còn không khí trong chum, vại. Đậy kín và để lên men trong khoảng 7 ngày. (theo một số kỹ thuật khác: sau 7 ngày, khối ruốc đã lên men được đổ ra, phơi thêm.. nghiền hay giã lại.. và cho ủ thêm (đợt nhì) đến khi có thành phẩm vừa ý.
Quy trình sản xuất belacan theo tài liệu MARDI- Serdang (Mã Lai)
Ngoài dạng Mắm ruốc "chính thống" do lên men bằng vi khuẩn và ủ trong thời gian kéo dài, còn có thêm những dạng chế biến có thể đơn giản hơn hoặc cầu kỳ hơn:
1- Ruốc quết: có thể có các công đoạn như:
-
xác ruốc sau khi phơi khô được đem đâm mịn thành bột, càng mịn càng tốt; bột được bỏ vào các vại nước ruốc, quậy đều rồi phơi nắng; đảo mỗi ngày; đến khi có mùi thơm và nước ngập lên trên mặt.. là ăn được.
Nước gạn trên mặt món "ruốc quết" được xem là.. nước mắm ruốc có thể ăn được.
3- Mắm ruốc chua:
Loại mắm Thái gọi là "Koong som": trộn ruốc acetes với muối và đường thốt nốt, để lên men yếm khí (anaerobic), dưới nhiệt độ thường, đến khi có vị.. chua do các vi khuẩn lactic.
Vài khía cạnh vi sinh trong việc chế tạo Mắm Ruốc (1)
Thành phần vi sinh vật trong mắm ruốc Saeu-jeot (làm tử acetes japonicus) lên đến hơn 100 chủng thuộc các nhóm Staphylococcus (đa số); Bacillus; Halomonas và Kokuria. Nghiên cứu cũng cho thấy các vi sinh vật không phải là những tác nhân chính để cung cấp các men giúp phân cắt các protein trong mắm (nơi có nồng độ muối khá cao). Staphylococcus có thể giúp ‘ủ chín’ mắm còn các Bacillus là tác nhân tạo quá trình lên men (Food Microbiology No 28-2011).
Trong giai đoạn đầu của diễn tiến lên men, có sự hiện diện của các vi khuẩn Achromobacter; Pseudomonas; Micrococcus dentifricans..các vi khuẩn này từ từ biến mất dần và mất hẳn sau 40 ngày lên men trong khi đó các Halobacterium, Pediococcus, Sarcina, Micrococcus morrhuae và các nấm men lại phát triển mạnh hơn..
(Theo: The taste compounds of Fermented Acetes chinensis - Korean Studies Information Co.)
Vị của mắm Ruốc là do sự biến đổi của các hợp chất phức tạp trong mắm khi lên men như các acid amin tự do, các nucleotide và các chất chuyển hóa loại TMAO =Trimethylamine N-oxide), TMA (Trimethylamine), Betaine..
Các phân chất ghi nhận: các nitrogen bay hơi gia tăng nhanh trong thời gian khởi đầu lên men cho đến ngày thứ 108, sau đó giảm hạ; các amino nitrogen cũng tăng nhanh cho đến ngày thứ 42 rồi giảm; trong khi đó ADP(Adenosine diphosphate), AMP(A.. monophosphate) và IMP (imipenemase?) .. giảm sau 27 ngày; Hypoxanthine bắt đầu tăng và ngưng ở ngày thứ 72: và theo các nhà nghiên cứu : mùi của mắm ruốc có lẽ do phần lớn ở các hypoxanthine.
Tỷ lệ các acid amin tự do trong mắm ruốc được ghi nhận (từ cao xuống thấp):
proline (18.5%), arginine (14.6), alanine (14.8), glycine (8.7), lysine (8.1), glutamic acid (7.7), leucine,valine và threonine..trong khi đó lượng serine, methionine, histidine thấp hơn nhiều..
Ngoài ra, mắm ruốc chế biến khi dùng nồng độ muối 40%, sẽ cho thành phẩm có vị mặn chát.. không ăn được!; nồng độ 20-30% , mắm có vị dịu hơn..Cũng theo nghiên cứu trên thì vị của mắm ruốc là do các acid amin như lysine, proline, alanine, glycine và serine.. là nhóm tạo vị ngọt ; glutamic acid tạo vị thịt còn leucine tạo vị.. đắng.
Thành phần dinh dưỡng cùng các nghiên cứu về Mắm ruốc và sức khỏe
Mắm ruốc, tùy theo cách chế biến, có nhiều khác biệt trong thành phần dinh dưỡng nhất là độ ẩm (hàm lượng nước) và độ mặn (lượng muối sodium).
- Theo Bộ Nông nghiệp Mã Lai (Mắm belacan): vài số liệu ghi nhận như sau:
Độ pH (7.2-7.8); Tro tổng cộng (20-27%); Độ ẩm (27-40%)
Carbohydrate (0.5%); Chất béo (1.4-2.6); Chất đạm (28-40); Muối (tính theo sodium chloride (13-25 %
Các khoáng chất như calcium, sắt..
.png)
- Mắm ruốc Thái Kapi: có độ ẩm 36-49%, chất đạm (20-25%); muối (19-24%)..
Có vài nghiên cứu đáng chú ý về Mắm ruốc liên hệ đến sức khỏe;
Tại Nam Hàn, có một thành phẩm dùng các hợp chất ly trích từ mắm ruốc (acetes japonicus), đặt tên là SG-GN3, thử nghiệm trên chuột tạo cao cholesterol bằng Triton WR-1339
|
|
|