Trần Minh Quân

 

 

 Cá RỒNG      Cá cảnh và cá làm thực phẩm (Bài 1)

                                              Trần Minh Quân

                              

       Tumblr | Dragon fish, Fish pet, Fish wallpaper                                         

                                                                         Cá Rồng

           Cá Rồng (Arowana), tên gọi chung cho các loài cá thuộc họ Osteoglossidae, một họ cá nước ngọt có mặt tại Á châu nhiệt đới, Nam Mỹ và Úc cả tại Phi châu. Cá Rồng được đặt tên và phân chia thành nhiều chủng loại tùy theo màu sắc và địa danh nơi sinh sống. Riêng Cá Rồng Châu Á, thuộc chi Scleropages, đã được xem là một loài cá cảnh 'siêu hạng' và nuôi cá Rồng đã trở thành một 'mốt' thời thượng dành cho các 'đại gia' tại Việt Nam. Một chú cá Rồng 'quý' như Cá Rồng Bạch kim được nhập từ Singapore, Mã Lai về Việt Nam trị giá đến 40 ngàn USD, thậm chí có những con được lai tạo đặc biệt (có một không hai) như con Hoàng Triều Thanh long được định gíá đến trên 500 ngàn USD (?) đang thuộc quyền sở hữu của một 'đại gia' Nhật. Tuy nhiên giới 'chơi' cá cảnh có lẽ ít ai biết là Cá Rồng đã từng được dùng làm thực phẩm tại vùng sông Mekong và cá Rồng Nam Mỹ cũng hiện đang là một nguồn thực phẩm cho dân cư vùng Amazon...


            Họ cá Osteoglossidae (Bonytongues) có thể được chia thêm thành hai họ phụ tùy theo có hay không có râu nơi hàm dưới:

            1- Họ phụ Heterotidinae: hàm dưới không râu

            2- Họ phụ Osteoglossinae: có râu nơi hàm dưới

1- Họ phụ Heterotidinae chỉ có 2 chi và mỗi chi chỉ có một loài:

            - Arapaima gigas: Cá rồng Nam Mỹ, tên thường gọi là Pira cucu, Arapima.

                               

                                                               Arapaima gigas

                                                  

               seatrench — Pirarucu (source)

                                              Cá rồng Nam Mỹ - Pira cucu
 

            Heterotis niloticus: Cá rồng Phi châu hay African Arowana.
 

                            
 

                             Cá rồng Phi châu hay African Arowana.
 

2- Họ phụ Osteroglossinae cũng có 2 chi Osteoglossum (có 2 loài) và Scleropages (có 3 loài). Các loài thuộc họ này gồm:

      Chi Osteoglossum:    

            - Osteroglossum bicirrhosum: Cá rồng bạc (Ngân long)= Silver Arowana.

                                            

                                      Cá rồng bạc (Ngân long)= Silver Arowana.

            - Osteroglossum ferreirai: Cá rồng đen (Hắc long) = Black Arowana.

                               

                                               Cá rồng đen (Hắc long) = Black Arowana.


      Chi Scleropages:

            - Scleropages formosus: Kim long, là loài cá Rồng 'chính thống= Green arowana, Asian bodytongu.

                            

 

            - Scleropages jardinii: Gulf Saratoga, Australian arowan.
                            

 

            - Scleropages leichardti: Spotted Saratoga, Spotted arowana.

                            
 

                                                      Scleropages leichardti


            Trong 5 loài trên: 2 loài Osteroglossum có nguồn gốc từ Nam Mỹ, loài Scleropages formosus từ Đông Nam Á và 2 loài sau cùng từ Úc châu (ít được giới nuôi cá cảnh chú ý)..

            Các nghiên cứu sâu rộng của Pouyaud, Sudarto và Teugels về Scleropages formosus, công bố trong Cybium Số 27-2003, đã chia loài này thêm thành 3 loài riêng hiện đang được nuôi làm cá cảnh:

       Scleropages formosus chia thành 3 loài riêng biệt:

           - Scleropages aureus = Red-tailed golden arowana (tên cá cảnh là Kim long hồng vỹ).

                          


 

                                              
 

                                                  Kim long hồng vỹ
 

           - Scleropages legendrei = Red Arowana, Super red arowana, Chili red arowana (Huyết long)

           - Scleropages macrocephalus = Silver Asian arowana

Một số đặc điểm chung của Cá Rồng:

           Cá Rồng có thân thon dài và dẹt một bên, khi còn nhỏ lưng thẳng nhưng khi trưởng thành trở thành hơi cong. Miệng to, nghiêng và nhô, có thể mở khá rộng: khi mở hết có dạng hình chữ nhật. Có một đôi râu nơi hàm dưới. Trong miệng có nhiều xương nơi hàm, khẩu cái, vòm miêng và cả lưỡi cũng có xương. Răng nhỏ, xít và sắc. Mắt to. Thân phủ vẩy to, thô, thuôn tròn và lấp lánh. Vẩy. tùy loài, được sắp xếp theo một hoa văn có hình dạng riêng. Vây ngực dài; vây bụng nhỏ. Vây lưng và vây hậu môn có tia mềm, dài và nằm về phia sau thân.

          Cá có thể nhận oxygen bằng cách 'hớp' không khí qua một hệ thống bong bóng, và được xem là một loài cá 'phải thở bằng không khí'

          Cá có thể đạt chiều dài từ 60 đến 90 cm, tối đa lên đến 120 cm, trọng lượng đến 7.5 kg và có tuổi thọ rất cao, lên đến 20-30 năm khi nuôi trong các hồ cá cảnh.

          Màu sắc của cá rất đa dạng (Xem phần Cá cảnh)

          Cá thường sống ở các sông, suối, hồ có dòng nước chảy chậm, gần mặt nước. Chúng thuộc loại cá dữ, ăn mồi sống như các loài cá nhỏ, ếch, nhái..Cá rồng nhảy khá cao, có loài (như Osteoglossum) có thể nhảy cao đến 2m khỏi mặt nước.

          Cá trưởng thành chậm, đẻ trứng, mỗi đợt từ 40-70 trứng, có đường kính chừng 1.7 cm. Trứng được ấp trong miệng cá trống cho đến khi nở.

                                    

                           Arowana fish laying eggs. Arowana fish spawning on Make a GIF

                                           Cá rồng ép trứng
 

Cá RỒNG làm cá cảnh

          Người Trung Hoa trên thế giới tin rằng Rồng là một linh vật tượng trưng cho sự may mắn và Cá Rồng với hình dạng và màu sắc đặc biệt, rất có thể ..cùng tổ tiên với Rồng nên nuôi cá Rồng sẽ đem lại may mắn, phát tài, phát lộc.. Khoa Phong-Thủy còn đi xa hơn khi cho rằng bể hay hồ chứa cá Rồng là Phong; nước trong hồ nuôi cá là Thủy; cá Rồng là Tài và khi phối hợp cả 3 chữ sẽ là Đại Phúc.. Do đó khi nuôi cá, ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hiếm có của cá, người nuôi còn chứng tỏ thêm được sự giàu sang, phú quý..

        Trên nguyên tắc, tất cả mọi loài cá rồng đều có thể nuôi để làm cá cảnh (kể cả cá rồng từ Úc, Phi châu và Nam Mỹ), nhưng trên thực tế giới 'chơi cá cảnh' trên thế giới, nhất là tại Á châu chỉ 'nuôi' cá rồng Á châu (Asian Arowana) và xem việc nuôi cá rồng là một 'nghệ thuật' đòi hỏi nhiều công phu và tiền bạc.

        Cá rồng Châu Á đã được đưa vào danh sách các sinh vật đang gặp nguy cơ tuyệt chủng (endangered species):

       2006 ICUN Red List dựa trên các số liệu thu thập từ 1996. Việc buôn bán cá rồng được đặt dưới sự kiểm soát của Tổ chức Quốc tế CITES (Convention on the International Trade in Endangered Species of Wild Flora and Fauna). Nhiều cơ sở nuôi và sản xuất cá rồng tại Á châu đã ghi danh với CITES để chịu sự giám sát trong việc buôn bán cá trên thị trường, và nhiều quốc gia khác như Hoa Kỳ gìới hạn việc sở hữu cá rồng như đòi hỏi phải có giấy phép khi muốn nuôi cá.(Riêng tại Hoa Kỳ, việc tư nhân sở hữu Asian arowana là bất hợp pháp. Muốn được cấp giấy phép người sở hữu phải là một cơ sở dùng cá để trưng bày trong bể nuôi cho công chúng xem (public aquarium) hay một cơ sở nghiên cứu. Sở hữu cá bất hợp pháp là vi phạm luật Liên bang bị phạt rất nặng (lên đến 25 ngàn USD ) kể cả bị tịch thu cá và phạt tù, có thể đến 5 năm. Một tòa án tại San Francisco, tháng 3 năm 2008, đã xử phạt Danny Yep 2 tháng tù và 3 năm thử thách cộng thêm tiền phạt 2000 USD về tội danh bán cá Rồng Á châu bất hợp pháp). Tại Canada, luật tương đối dễ dàng hơn: tư nhân có thể sở hữu Asian arowana nếu đáp ứng được một số điều kiện quy định.

          Phong trào nuôi cá rồng tại Á châu, khởi đầu tại Mã lai và Singapore vào thập niên 70 và sau đó phát triển rất nhanh trong thập niên 80 sang Taiwan, Thái Lan, HongKong và Nhật.. khiến cho cá rồng bị đánh bắt đến mức hầu như cạn kiệt tại Mã lai, Thái lan..Những 'đại gia' và những nhà 'quý tộc Việt Nam vào những năm 2000, cũng tham gia 'mốt' nuôi cá rồng cầu may và nhập vào VN những con cá trị giá xoàng xoàng khoảng..2, 3 ngàn USD

          Đến đầu năm 1989, CITES bắt đầu cho phép buôn bán Cá rồng châu Á, với một số điều kiện như cá được sản xuất tại một trại nuôi và cá phải là cá của thế hệ thứ nhì, phát xuất từ cá bố/mẹ đã 'đăng ký'. Đợt cá đầu tiên được phép bán trên thị trường phát xuất từ Indonesia. Sau đó Singapore, với sự yểm trợ của Chính phủ, đã có nhựng trại ép giống được CITES chứng nhận, sản xuất cá và bán ra thị trường từ 1994.

         Cá rồng, từ nuôi-ép, khi được phép CITES buôn bán được kiểm soát đòi hỏi 2 điều kiện:
 
         Mỗi con cá (buôn bán hợp pháp) phải có một Giấy chứng nhận do trại nuôi cá cấp phát, kèm theo một giấy khai sinh của cá.

         Mỗi con cá được gắn một microchip điện tử , gọi là Passive Integrated Transponder (PIT) để giúp 'nhận diện' căn cước của cá

Giấy chứng nhận bắt buộc phải ghi rõ xuất xứ, số 'đăng ký' kiểu như 'serial number' và số này phải trùng với số ghi trên chip gắn vào cá.

        Khác với cá Koi thường được nuôi trong những hồ nhân tạo ngoài thiên nhiên (như trong vườn) hoặc xây cất trong nhà, cá rồng phải được nuôi trong những bể bằng kính thường cần dài trên 2m với những hệ thống lọc nước và đèn chiếu thiết kế theo từng điều kiện riêng của từng loài cá (ánh sáng sẽ giúp tăng màu sắc, độ bóng của vẩy cá), chưa kể đến những đòi hỏi về thức ăn để nuôi cá, thông thường là tôm nhỏ, bỏ đầu nhưng những tay nuôi cá còn cho cá ăn những món 'kỳ dị' hơn như gián, thạch sùng và..rết (?)

        Giới chơi cá cảnh có những cách thức phân loại Cá Rồng riêng, tùy theo mảu sắc của cá:

        1- Kim long quá bối

        2- Huyết long

        3- Kim long hồng vỹ

        4- Ngân long

        5- Thanh long

1- Kim long quá bối:

         Các tên Âu-Mỹ: Cross back Golden Malaysia, Blue Malaysian bonytongue, Bukit Merah Blue, Taipeh Blue Golden.

         Cá có nhiều tên khác nhau tùy theo nơi được ép giống như tại Mã lai (Perak, Trengannu, hồ Bukit Merah), Singapore..

         Tên khoa học: Scleropages formosus.

(Tên khoa học này chưa được các nhà nghiên cứu đồng ý, tạm để chung với Thanh long tuy một số đặc điểm có thể gần vơi Kim long hồng vỹ)

         Nguồn gốc tại Bang Pahang và vùng hồ Burit Merah tại Perak nơi Bán đảo Mã Lai.

         Kim long quá bối hiện là loài cá cảnh đắt giá nhất vì nhu cầu cao, rất khó sản xuất và các trại ép cá tại Mã lai không đủ cung cấp cho thị trường cá cảnh.

         Cá còn được phân loại xa hơn tùy theo màu của vảy cá và tùy theo màu đạt được đến hàng vảy nào, xếp theo thứ tự từ bụng đi lên lưng, và nền của vẩy như vẩy có nền vàng, bạc, nền xanh, tím..

        Loài nền vàng (loại vàng 24K) được đánh giá là có giá trị cao nhất: vẩy màu vàng óng ánh từ viền vẩy vào đến tâm vẩy. Toàn thân giống như một thỏi vàng 24K bơi lội trong hồ.

        Theo William Goh (trên trang mạng 
dragonfish.com), các tay 'chơi' cá Rồng xếp hạng cá Kim long quá bối như sau:

        Hạng thường: các loại 'gold-based', 'blue-based', màu nhạt. Màu chỉ phát triển đến khoảng 50% đến hàng vảy thứ 5.

        Hạng A: các loại 'emerald-blue based' (nền xanh ngọc thạch) và 'blue based' xuất xứ từ Hồ Bukit Merah. Màu phát triển lên đến 50% của hàng vảy thứ 5. Đầu dạng muỗng múc tròn (spoon), môi không bị trề.

        Hạng AA: Như các loại Hạng A, nhưng màu phát triển lên toàn bộ hàng vảy thứ 5, và có một ít 'châu' nơi gốc của vây lưng.

        Hạng AAA: Tương đối hiếm, màu phát triển lên đến hàng vây thứ 6 trên lưng, đồng thời có một số 'châu' nơi vây lưng. Đầu dạng spoon, môi không bị trề.

        Hạng AAA +: Rất hiếm gồm các loại 'gold head', 'full gold' và 'platinum'.

        Ngoài các đặc tính của loại 3A còn có thêm: 'gold head' có những vệt màu vàng trên đầu; 'full gold' toàn thân màu vàng 24K và 'platinum' toàn thân màu bạch kim. Platinum Crossback là do ở đột biến di truyền, thân sáng tỏa màu trắng bạch kim dưới ánh đèn.
 

                                                     
 

2- Huyết long:

         Các tên Âu Mỹ: Red Asian arowana, Super Red arowana.

         Tên khoa học: Sclerophages legendrei.

         Huyết long là một loài cá rồng xuất phát từ vùng Tây Kalimantan (Indonesia) nơi các sông Kapuas, hồ Sentarum. Cá trưởng thành có nắp mang, vẩy thân và màng của vây đều màu đỏ kim loại. Lưng màu nâu xậm. Khi cá còn nhỏ, lưng càng xậm thì khi trưởng thành sẽ càng đỏ đẹp..

         Huyết long, tùy màu của vẩy được chia thành 4 loại khác nhau và giá cả cũng..khác nhau.

       - Huyết long màu đỏ ớt: Red chili asian arowana.

       - Huyết long màu đỏ của máu: Red blood arowana.

       - Huyết long đỏ cam (Orang-red).

       - Huyết long đỏ-vàng (Golden red).

         Sự phân biệt giữa đỏ-ớt và đỏ-máu do ở màu tươi và sáng hơn của đỏ-ớt so với màu đỏ xậm hơn của đỏ máu. Hình dáng của 2 loài cũng có những khác biệt do ở sự lai tạo và do môi trường sinh sống, tùy theo nồng độ tanins trong nước.

       - Cá 'đỏ-ớt' có thân hình rộng và dày; mắt to và rộng, có khi phần trên của mắt gần như đụng đến đầu và phần dưới gần đếng miệng. Mắt cũng màu đỏ. Đặc biệt là đuôi hình kim cương=diamond shape, có nơi gọi là pear-shape (tại VN gọi là đuôi hình trái đào), mọc dài ra phía sau khi trưởng thành..

       - Cá 'đỏ máu' thân hình dài và dẹp; mắt nhỏ và tròn, đuôi mở rộng hình cánh quạt = fan shape tail.

       - Cá 'đỏ-cam' tương đối dễ gặp, và thường được nuôi phổ biến hơn và được'sản xuất' dễ dàng hơn: Vảy màu vàng cam phủ đầy thân. Vây cũng như đuôi không có màu đỏ như 2 loại trên.

       - Cá ' đỏ vàng' cũng thường gặp, giá trị thấp vì thân chỉ có màu vàng nhạt, râu hơi vàng còn vây thường không màu.

          Tại Indonesia, các nhà nuôi ép cá đã cho lai tạo giữa cá trống Super Red và cá mái Yellow tail siver để tạo ra loại Huyết long Banjar Red loài này đầu tròn, miệng không nhọn, vẩy không sáng và không có vẩy đỏ phủ toàn thân, đồng thời vây hậu môn và vây bụng chỉ có màu cam nhạt.

3- Kim long hồng vỹ:

          Tên Âu - Mỹ: Red tail Golden arowana, Indonesian Golden.

          Tên khoa học: Scleropages aureus.
 
          Theo như tên gọi, đây là loại cá rồng, thân vàng nhưng đuôi đỏ. Giới nuôi cá cảnh đặt tên riêng cho cá là 'Kim long Indonesia' do ở xuất xứ của Cá : từ Kalimantan và Sumatra. Cá thường sinh sống nơi những dòng suối nước màu xậm chứa các chất tanin hòa tan trong lưu vực các sông Siak, Batanghari..

          Kim long Hồng vỹ được xem là có giá trị kém hơn Kim long Quá bối vì vẩy cá không bao giờ đạt được màu vàng (24K) ở toàn thân. Màu vàng không vượt được khỏi lưng dù trưởng thành, đồng thời luôn luôn có một vệt đen lớn kéo dài từ đầu đến cuối đuôi cá. Vây lưng và phần trên của vây đuôi màu xanh lục xậm. Đa số có màu vàng chỉ đến được hàng vẩy thứ 4 và hiếm khi đến được hàng thứ 5. Cũng như Kim long Quá bối, cá còn được phân hạng theo màu sắc của nền như xanh, xanh lục..vàng..

4- Thanh long:

          Tên Âu-Mỹ: Green Arowana.

          Đây là loài cá rồng thường gặp tại nhiều nơi trên hệ sông Mekong như Thái Lan, Miến điện, Campuchea, Việt Nam.. Cá cũng gặp tại Mã lai và Indonesia, từng được dùng làm thực phẩm tại nhiều địa phương.

          Màu sắc của cá thay đổi tùy theo những điều kiện môi sinh, lưng có thể màu xanh lục xậm, hai bên thân màu xám xanh hay xám bạc, bụng trắng nhạt, đuôi có sọc xanh xám đậm hơn. Đầu to, miệng tròn.

          Thanh long được xếp vào hạng cá rồng rẻ nhất, dảnh cho người nuôi cá rồng 'tài tử'. Tuy nhiên trong nhóm Thanh long có loài Thanh long Xanh (lai tạo tại các trại ép ở Singapore) có vẩy xanh nhưng nơi tâm của vẩy có thêm màu tím, thì lại được xếp vào hạngqu ý, hiếm, được ưa chuộng tại Philippines, Thái Lan.

5- Ngân long:

       Tên Âu-Mỹ: Silver Asian (cần phân biệt với Silver arowana của Nam Mỹ)

       Tên khoa học: Scleropages macrocephalus.

       Ngân long còn chia thành 2 loài phụ:

     - Loại có đuôi màu bạc xám (grey tail siver) hay Pinoh arowana.

     - Loại có đuôi màu vàng (yellow tail silver).

          Ngân long có nguồn gốc tại Borneo (Indonesia).
 

          Ngân long có đặc điểm chung là lưng màu xám, thân màu bạc. Vẩy có những đốm đậm dạng khoanh, bụng trắng nhạt. Loại đuôi vàng có màng của vây màu vàng nhạt, và loại đuôi xám có vây và đuôi đều xám xậm.


 

 

 

Trở Về Trang Chính